Monday, July 14, 2014

NHÂN LOẠI TIẾN ĐẾN MỘT THẾ GIỚI HOÀ BÌNH

NHÂN LOẠI TIẾN ĐẾN MỘT THẾ GIỚI HOÀ BÌNH
His Holiness the Dalai Lama
Tuệ Uyển Việt dịch

Giới thiệu
Khi chúng ta thức dậy mỗi buổi sáng và nghe trên đài phát thanh hay đọc trên báo chí, chúng ta đối diện với những tin tức buồn thảm giống nhau: bạo hành, tội phạm, chiến tranh, và thiên tai. Chúng tôi không thể nhớ lại một ngày nào không có những báo cáo vể những thảm kịch xãy ra ở đâu đấy. Ngay cả trong thời gian hiện tại ngày nay điều rõ ràng rằng đời sống quý giá của loài người thì không an toàn.  Không có một thế hệ quá khứ nào lại chứng kiến quá nhiều những tin tức đau buồn như chúng ta đối diện ngày nay, sự tĩnh thức cảnh giác liên tục này về sợ hải và căng thẳng nên tạo thành một câu hỏi nghiêm khắc của mỗi người nhạy cảm và từ bi đối với tiến trình của thế giới hiện đại của chúng ta.
Thật là đáng buồn rằng càng có nhiều những vấn đề nghiêm trọng hơn sản sinh từ sự ngày càng phát triển của xã hội công nghiệp kỷ nghệ. Khoa học và kỷ thuật đã hoạt động diệu kỳ trên nhiều lãnh vực, nhưng những vấn đề nan giải của nhân loại vẫn tồn tại. Có một sự chưa từng có về sự biết đọc-biết viết (xoá nạn mù chữ), tuy vậy sự giáo dục (học vấn) toàn cầu dường như không nuôi dưỡng, khuyến khích, ấp ủ một tính tốt, một lòng tốt, một lòng hào hiệp, mà thay vào đấy chỉ là một tinh thần hiếu động và không hài lòng hay sự bất mãn.  Không có nghi ngờ gì về sự gia tăng trong tiến trình và kỷ thuật vật chất của chúng ta, nhưng trong một khía cạnh nào đấy điều này không có khã năng, hay không đủ khi mà chúng ta chưa thành công trong việc đem đến hoà bình và hạnh phúc hay là trong việc vượt thắng khổ đau.
Chúng ta chỉ có thể kết luận rằng phải có những sai lầm một cách nghiêm trọng với chương trình và sự phát triển của chúng ta, và nếu chúng ta không kiểm soát lại nó đúng lúc có thể có một hậu quả khủng khiếp cho tương lai của loài người.  Chúng tôi hoàn toàn không chống lại khoa học và kỷ thuật - chúng đã cống hiến một cách bao la, mênh mang cho toàn bộ kinh nghiệm của loài người; cho một đời sống vật chất tốt đẹp và thoãi mái của chúng ta và cho sự hiểu biết vĩ đại đối với thế giới chúng ta đang sống.  Nhưng nếu chúng ta nhấn mạnh quá nhiều đến khoa học va kỷ thuật chúng ta có nguy cơ quên lãng với những khía cạnh về tri thức và hiểu biết của con người với sự cảm hứng trên tính trung thực, tính chân thật, tính lương thiện  và lòng vị tha.
Khoa học và kỷ thuật, mặc dù có thể tạo nên một sự thoãi mái vật chất không tính đếm được, nhưng không thể thay thế cho những giá trị tinh thần và nhân bản lâu đời mà văn minh thế giới đã được tô điểm một cách sâu sắc, rộng rãi, trong tất cả mọi hình thức quốc gia của nó mà chúng ta được biết ngày hôm nay.  Không ai có thể phủ nhận những lợi ích vật chất chưa từng có của khoa học kỷ thuật, nhưng những nan đề của loài người vẫn tồn tại; chúng ta tiếp tục đối diện với những vấn đề giống như vậy, nếu không phải là thêm khổ đau, sợ hải và căng thẳng.  Vì vậy chúng không chỉ là hướng đến một sự cân bằng giữa phát triển vật chất trên một phương diện và phát triển những giá trị tinh thần về mặt kia.  Nhằm mục tiêu đem đến một sự điều chỉnh vĩ đại này, chúng ta cần làm sống lại những giá trị nhân bản của chúng ta.
Chúng tôi chắc chắn rằng nhiều người chia sẻ sự quan tâm của chúng tôi về sự khủng hoảng đạo đức toàn cầu và sẽ tham gia vào lời kêu gọi của chúng tôi đến tất cả những ai theo chủ nghĩa nhân đạo và những người thực hành tôn giáo, những người cũng chia sẻ quan tâm này để hổ trợ làm nên một xã hội, một cộng đồng của chúng ta từ bi hơn, bác ái hơn, yêu thương hơn, công bằng hơn, và vô tư hơn. Chúng tôi không nói như một Phật tử hay ngay cả là như một người Tây tạng. Mà chúng tôi cũng không tuyên bố như một nhà chuyên môn trên những chính trường quốc tế (mặc dù chúng tôi không tránh khỏi bình luận trên những vấn đề này).  Tốt hơn là, chúng tôi nói năng đơn giản như một người của nhân loại, như một người ôm ấp những giá trị tinh thần nhân bản mà căn nguyên của nó không chỉ ở Đại thừa Phật giáo mà ở tất cả những tôn giáo vĩ đại trên thế giới.  Từ triển vọng của viễn cảnh này chúng tôi muốn chia sẻ với tất cả quan điểm cá nhân của chúng tôi - rằng: 
1- Chủ nghĩa nhân đạo toàn cầu là căn bản để giải quyết những vấn đề của trái đất;
2- Từ bi bác ái là cột trụ của hoà bình thế giới;
3- Tất cả những tôn giáo thế giới phải chuẩn bị sẳn sàng cho một thế giới hoà bình bằng con đường này, với tất cả người nhân đạo của bất cứ triết thuyết nào.
4- Mỗi cá nhân phải có một trách nhiệm toàn cầu để hình thành những tổ chức phục vụ cho những việc cần thiết của nhân loại.
GIẢI QUYẾT NHỮNG VẤN NẠN CỦA NHÂN LOẠI THÔNG QUA VIỆC CHUYỂN HOÁ THÁI ĐỘ CỦA CON NGƯỜI
Trong nhiều vấn đề mà chúng ta đối diện ngày nay, có một số là thiên tai và phải được chấp nhận và đối diện với một sự trấn tĩnh, bình thản.  Tuy vậy, những việc khác, là do chúng ta tự làm nên, tạo nên bằng sự thiếu hiểu biết, thiếu cảm thông, và có thể điều chỉnh được.  Một loại như vậy đã trỗi dậy từ  sự xung đột của những tư tưởng, chính trị và tôn giáo. Khi người ta chiến đấu với kẽ khác đến tận cùng của sự hẹp hòi, chúng ta đã đánh mất cái cảnh tượng căn bản của loài người điều mà đã nối kết chúng ta lại với nhau như một gia đình loài người dường như đơn độc trong vũ trụ bao la.  Chúng ta phải nhớ rằng sự khác nhau về tôn giáo, tư tưởng, và hệ thống chính trị của thế giới là nhằm ý nghĩa cho nhân loại đạt được hạnh phúc.  Chúng ta không được đánh mất cái viễn tượng của mục tiêu căn bản này và không khi nào chúng ta nên đánh giá những ý nghĩa nào trên điều này; quyền lợi tối thượng của loài người, của nhân tính đứng trên tất cả mọi vấn đề và tư tưởng phải luôn luôn được duy trì và nhắc nhở.
Với viễn cảnh của sự nguy hiểm lớn nhất rõ ràng mà loài người đối diện - trong sự kiện, toàn thể sự sống trên hành tinh của chúng ta - là sự đe doạ của hiểm hoạ tàn phá bởi bom nguyên tử.  Chúng tôi nghĩ không cần quá chi tiết về sự nguy hiểm này, nhưng chúng tôi kêu gọi tất cả những lãnh tụ của các cường quốc nguyên tử, những người thật sự nắm giữ tương lai của thế giới trong tay, đến những khoa học gia và kỷ thuật gia những người tiếp tục chế tạo nên những vũ khí của sự tàn phá kinh khiếp này, và đến tất cả những người có những vị trí ảnh hưởng đến những lãnh tụ của họ; chúng tôi kêu gọi đến họ thực thi sự ôn hoà của họ và bắt đầu làm việc tháo bỏ và phá huỷ toàn bộ vũ khí nguyên tử.  Chúng ta biết rằng trong sự kiện của một cuộc chiến tranh hạch tâm sẽ không có người chiến thắng vì sẽ không có kẽ nào tồn tại !   Có phải nó không làm hoảng sợ nhưng chỉ để trầm tư với sự tàn phá phi nhân  và vô  tâm như vậy mà thôi hay sao ?  Và, nó không hợp tình, hợp lý hay sao khi chúng ta nên từ bỏ nguyên nhân cho sự tàn phá của chính chúng ta khi mà chúng ta biết  nguyên nhân và có cả thời gian cùng  ý nghĩa để làm như thế ?  Thông thường chúng ta không thể vượt thắng những vấn đề nan giải của chúng ta bởi vì có thể chúng ta không biết nguyên nhân hay, nếu chúng ta hiểu nó, không có ý nghĩa gì để từ bỏ hay giải quyết việc ấy.  Điều này không phải là trường hợp của hiểm hoạ hạt nhân.
Cho dù chúng ta thuộc vào loài tiến triển hơn như loài người hay những loại đơn giản hơn như loài vật, tất cả mọi loài căn bản đều tìm kiếm hoà bình, thoãi mái và an toàn.  Cuộc sống đáng yêu đối với loài vật thầm lặng cũng như đối với bất cứ một người nào; ngay cả côn trùng đơn giản nhất cũng cố gắng để bảo vệ đối với những hiểm nguy đe doạ cho đời sống của nó.  Giống như mỗi chúng ta muốn sống và không muốn chết, đấy cũng là ước vọng của tất cả những tạo vật khác trong vũ trụ mặc dù năng lực của chúng tác động  lên điều này như thế nào, đây lại là một vấn đề khác.
Đại khái có hai loại của hạnh phúc và khổ đau, tinh thần (tâm lý) và vật chất (vật lý), và cho cả hai điều này, chúng tôi tin tưởng rằng hạnh phúc và khổ đau của tinh thần là sâu sắc và kịch liệt hơn.  Vì thế, chúng tôi nhấn mạnh việc rèn luyện tâm để chịu đựng khổ đau và đạt đến trạng thái thật cùng tận của hạnh phúc.  Tuy vậy, chúng tôi có một ý kiến tổng quát và cụ thể hơn về hạnh phúc, một sự phối hợp của hạnh phúc nội tại, sự phát triển kinh tế, và, trên tất cả, sự thanh bình của thế giới.  Để đạt được những mục tiêu này chúng tôi cảm thấy cần thiết để phát triển một ý thức cảm xúc của trách nhiệm toàn cầu, một sự quan tâm sâu sắc cho tất cả bất kể tín ngưỡng, màu da, giới tính, hay quốc tịch.
Hứa hẹn theo sau ý tưởng trách nhiệm toàn cầu này là sự kiện đơn giản rằng, trong dạng thức phổ thông, tất cả những khát vọng của những người khác  là giống như của tôi.  Mỗi người muốn hạnh phúc, mỗi chúng sinh muốn hạnh phúc, và không muốn khổ đau.  Nếu chúng ta, loài người thông minh, không chấp nhận sự kiện này, thì sẽ có nhiều hơn và nhiều hơn khổ đau trên hành tinh này.  Nếu chúng ta nuôi dưỡng một trung tâm tự ngã để tiếp cận với cuộc sống và không ngớt cố gắng sử dụng, lợi dụng kẽ khác cho lợi ích của chính chúng ta, chúng ta có thể đạt được những lợi ích tạm thời, nhưng về lâu về dài chúng ta sẽ không thành công trong trong việc đạt đến ngay cả hạnh phúc cá nhân, và  thanh bình thế giới sẽ hoàn toàn là một câu hỏi ngoài lề.
Trong đòi hỏi cho hạnh phúc, nhân loại đã từng sử dụng những phương pháp khác nhau, mà tất cả cũng rất thường tàn bạo và kinh khiếp.  Những thái độ ứng xử hoàn toàn không xứng hợp với cái nhãn hiệu con người, người ta đã giáng khổ đau xuống đồng loại và những loài khác cho những lợi ích vị kỷ của họ.  Cuối cùng, những hành động thiển  cận như vậy sẽ đem đến khổ đau cho chính người ấy cũng như những người khác.  Để được sinh ra làm người tự nó là một sự kiện hiếm có, và thật là thông minh để lợi dụng cơ hội này một cách có hiệu quả và thiện nghệ như chúng ta có thể làm.  Chúng ta phải có viễn cảnh chính đáng của tiến trình của cuộc sống toàn cầu, vì vậy hạnh phúc và vinh quang của một người hay một nhóm thì không thể tìm kiếm bằng sự trả giá của kẻ khác.
Tất cả những lời kêu gọi này là cho một sự tiếp cận mới đến những vấn đề của địa cầu chúng ta.  Thế giới đang trở nên nhỏ hơn và nhỏ hơn - và càng ngày càng lệ thuộc liên đới hơn - như một kết quả của sự phát triển nhanh chóng của kỷ thuật và trao đổi mậu dịch thế giới cũng như sự phát triển quan hệ giữa các quốc gia.  Bây giờ chúng ta lệ thuộc rất nhiều với những người khác.  Ngày xưa, những vấn đề hầu hết là ở phạm vi gia đình, và người ta giải quyết một cách tự nhiên ở cấp độ gia đình, nhưng tình trạng đã thay đổi.  Ngày nay chúng ta quá lệ thuộc, quá liên hệ gần gũi với những người khác, và rằng nếu không  có một ý thức trách nhiệm toàn cầu, một cảm giác huynh đệ tỉ muội toàn cầu, và một sự hiểu biết và tin tưởng rằng chúng ta là một phần của một gia đình nhân loại lớn, chúng ta không thể hy vọng vượt thắng những hiểm họa cho sự tồn tại quý báu của chúng ta - hãy để chỉ tình thân nhân loại mang về hòa bình và hạnh phúc.
Những vấn đề của một quốc gia không thể được giải quyết một cách hài lòng bởi chính quốc gia ấy nữa; nó lệ thuộc rất nhiều trên sự hứng khởi, thái độ, và sự hợp tác của những quốc gia khác.  Một chủ nghĩa nhân đạo toàn cầu tiếp cận đến những vấn đề của thế giới dường như là một căn bản hợp lý duy nhất cho thanh bình của thế giới. Điều này có nghĩa gì?  Chúng ta bắt đầu từ sự thừa nhận trước tiên rằng tất cả mọi loài yêu mến, ấp ủ hạnh phúc và không muốn khổ đau.   Rồi thì nó trở nên cả hai sự sai lầm đạo đức và thực tế không thông minh để tiếp tục theo đuổi chỉ cho hạnh phúc của chính mình và lãng quên  cảm xúc và khát vọng của tất cả những người khác chung quanh chúng ta như những thành viên của một gia đình nhân loại.  Chiều hướng  thông thái hơn là cũng nghĩ đến những người khác khi theo đuổi cho chính hạnh phúc của chúng ta.  Điều này sẽ dẫn đến điều được gọi là sự tự quan tâm minh mẫn.  Hy vọng đấy là điều sẽ chuyển hóa chính nó thành thỏa hiệp tự quan tâm, hay tịch  tĩnh hơn, quan tâm  hổ tương.
Mặc dù sự phát triển lệ thuộc liên đới giữa các quốc gia chắc rằng có thể phát sinh sự đồng cảm hợp tác hơn, nhưng thật là khó khăn để đạt đến  một tâm linh chân thành hợp tác cho đến khi mà người ta vẫn duy trì trong sự lãnh đạm thờ ơ đến cảm giác và hạnh phúc của những người khác. Khi người ta bị thúc đẩy bởi động cơ chủ yếu là tham lam và ghen tỵ, thì  người ta không thể sống trong hòa hiệp.  Một tâm linh tiếp cận có thể không thể giải quyết toàn bộ những vấn đề chính trị mà đã từng bị quay cuồng bởi lề thói ngã chấp hay vị kỷ, nhưng về lâu về dài nó sẽ vượt thắng chinh phục cái chìa khóa căn bản của những vấn đề mà chúng ta đối diện hôm nay.
Mặt khác, nếu nhân loại tiếp tục tiếp cận với những vấn đề của mình với tư tưởng chỉ với tính cách lợi ích nhất thời, những thế hệ tương lai sẽ đối phải đối diện với những khó khăn khủng khiếp.  Dân số toàn cầu đang gia tăng, và tài nguyên của chúng ta thì đang nhanh chóng cạn kiệt.  Hãy nhìn cây cối, thí dụ.  Không ai biết chính xác những tác động nào có hại do việc tàn phá rừng ồ ạt  sẽ có trên  toàn bộ khí hậu, đất đai, và môi trường sinh thái học của địa cầu.  Chúng ta đối diện với những vấn đề khó khăn vì người ta đang tập trung chỉ trên sách lược ngắn hạn , lợi ích vị kỷ của họ, không nghĩ đến toàn bộ gia đình nhân loại.  Người ta không nghĩ đến trái đất và những tác động lâu dài đối với toàn bộ đời sống của thế giới và vũ trụ của chúng ta.  Nếu chúng ta, thế hệ hiện tại không nghĩ đến những vấn đề này bây giờ, những thế hệ tương lai có thể không thể đối phó với chúng.
TỪ BI YÊU THƯƠNG LÀ CỘT TRỤ CỦA THẾ GIỚI THANH BÌNH 
Theo giáo nghĩa của đạo  Phật, hầu hết những vấn đề khó khăn của chúng ta xuyên qua bởi sự đam mê khát vọng và vướng mắc ngã chấp đến những việc mà chúng ta hiểu sai lầm như thực thể tồn tại lâu dài.  Sự theo đuổi những đối tượng của sự khát vọng và vướng mắc của chúng ta liên hệ với chiến tranh xâm lược hay gây hấn và sự cạnh tranh và cho đó như là những phương tiện có hiệu quả.  Những tiến trình tinh thần này có  thể dễ dàng chuyển thành những hành động, sản sinh đấu tranh như một tác động rõ ràng.  Những tiến trình như vậy đã theo tâm tính loài người từ xa xưa, nhưng sức tàn phá của chúng đã trở nên tác động hơn dưới những điều kiện hiện đại.  Chúng ta có thể làm gì để kiểm soát và điều chỉnh những loại "thuốc độc" này - ảo tưởng, tham lam, và hiếu động-gây hấn?  Những thứ thuốc độc này là mặt trái của hầu hết những vấn đề khó khăn trên thế giới.
Như một thành viên đến từ truyền thống đại thừa Phật giáo,  chúng tôi cảm thấy rằng yêu thương và từ bi là kết cấu, là khung sườn, là nền tảng đạo đức của thanh bình thế giới.  Hãy để chúng tôi trước nhất giải thích thế nào là ý nghĩa của từ bi.  Khi chúng ta có một lòng trắc ẩn hay từ bi cho một người rất nghèo, chúng ta biểu hiện cảm xúc bởi vì người ấy nghèo; lòng từ bi của chúng ta căn cứ trên sự quan tâm vị tha.  Mặt khác, tình thương đến người chồng, người vợ, con cái, hay bạn thân thì thường đặt trên sự ái luyến hay chấp trước.  Khi sự ái luyến hay chấp trước thay đổi sự tử tế lịch sự cũng thay đổi; nó có thể biến mất.  Điều này không phải là lòng yêu thương chân thật.  Tình yêu thương chân thành thì không đặt trên sự chấp trước, mà trên lòng vị tha.  Trong trường hợp này lòng từ bi yêu thương của  chúng ta sẽ tồn tại như một sự đáp ứng nhân đạo đến sự khổ đau cho đến khi nào chúng sinh còn tiếp tục đau khổ.
Loại từ bi yêu thương này là điều chúng ta phải cố gắng để phát triển trong chính mỗi chúng ta, và làm nó lớn mạnh từ một sự giới hạn khối lượng đến vô giới hạn.  Từ bi yêu thương không phân biệt, không gò bó, không giới hạn cho tất cả mọi loài chúng sinh là một  cách rõ ràng không phải tình yêu thương cho những người bạn hay gia đình, điều bị làm giảm giá trị hay bị làm xấu đi bởi si ám, khát ái, và chấp trước.  Loại tình yêu thương mà chúng ta nên tán thành là tình thương bao  la hơn điều mà chúng ta có thể có ngay cả cho những người đã từng làm tổn hại đến chúng ta: kẽ thù của chúng ta.
Nhân tố chính cho từ bi thương yêu là mỗi người chúng ta muốn tránh khổ đau và được hạnh phúc.  Điều này, trong cái nhìn, là căn bản giá trị cảm giác của cái "tôi", điều quyết định cái tính phổ biến khát vọng hạnh phúc.  Quả thực, tất cả mọi loài sinh ra với những khát vọng giống nhau và nên có một quyền bình đẳng để đáp ứng cho tất cả mọi giới.  Nếu so sánh chính chúng tôi với những người khác, vô số, chúng tôi cảm thấy rằng những người khác quan trọng hơn bởi vì chúng tôi chỉ là một thành viên trong khi những người khác thì quá nhiều.  Xa hơn nữa, truyền thống Phật giáo Tây tạng dạy chúng tôi hãy nhìn tất cả chúng sinh như những người mẹ thân thương của chúng tôi và biểu lộ lòng biết ơn  của chúng tôi bằng cách yêu thương tất cả.  Và theo giáo nghĩa đạo Phật, chúng ta sinh và tái sinh trong vô số kiếp sống, và điều này có thể nhận thức được rằng mỗi chúng sinh đã từng là cha mẹ của nhau ở lần này hay lần khác.  Trong cách này, tất cả chúng sinh trong vũ trụ cùng chia sẻ liên hệ của một gia đình. 
Cho dù một người có tin tưởng ở tôn giáo hay không, không một ai lại không hiểu rõ giá trị hay  không cảm kích lòng yêu thương và từ bi.  Ngay từ khoảnh khắc của sự sinh, chúng ta được sự săn sóc triều mến của cha mẹ chúng ta, và sau này trong cuộc sống, khi đối diện với khổ đau của bệnh tật và tuổi già, chúng ta lại lệ thuộc vào lòng tốt của những người khác.  Nếu từ lúc bắt đầu và cho đến lúc cuối đời chúng ta lệ thuộc vào sự tử tế của những người khác, tại sao ở khoảng trung gian không nên hành động ân cần đến những người khác?
Sự phát triển một trái tim ân cần thân thương(một cảm giác gần gũi với tất cả chúng sinh) không liên hệ với tín ngưỡng mà chúng ta phụng thờ với những qui ước thực hành tôn giáo.  Nó không chỉ cho người tín ngưỡng tôn giáo, nhưng cho mọi người không kể thuộc thành phần nào của màu da, tôn giáo, hay chính trị.  Nó dành cho tất cả những ai  thấy rằng, ở trên tất cả, mình là một thành viên của gia đình nhân loại và những ai thấy những việc với viễn cảnh bao la và lâu dài hơn.  Đây là một cảm giác với mãnh lực năng động mà chúng ta nên phát triển và áp dụng, thay vì chúng ta thường hờ hửng nó, đặc biệt trong những năm chính yếu khi chúng ta  trãi qua kinh nghiệm của một ý thức sai lầm về an toàn.
Khi chúng ta nghĩ đến đến tầm quan trọng của một viễn cảnh lâu dài hơn, sự kiện là tất cả chúng ta ước vọng để đạt đến hạnh phúc và né tránh khổ đau , và giữ trong tâm sự không quan trọng của chúng ta trong mối liên hệ đến vô lượng chúng sinh khác, chúng ta có thể kết luận rằng đó là toàn thể thế giới chia sẻ những sở hữu của chúng ta với những kẽ khác.  Khi chúng ta rèn luyện tâm chúng ta với một cái nhìn thế này,– một ý thức yêu thương chân thành và tôn trọng đến kẽ khác – một cảm xúc từ bi thành thật trở nên có thể hiện thực.  Hạnh phúc cá nhân sẽ dừng lại để ý thức tự tìm một sự tác động; nó trở thành  một sự tự động và cao xa thâm diệu bằng sự sản xuất toàn bộ tiến trình của yêu thương và phục vụ kẽ khác.
Một kết quả khác của phát triển tâm linh, phổ biến thông dụng trong đời sống hằng ngày, là nó cho một sự tịch tĩnh yên ổn và sự nhanh trí của tâm.  Đời sống chúng ta trong sự thay đổi liên tục, mang đến vô số khó khăn.  Khi đối diện với một tâm tĩnh lặng và trong sáng, những vấn đề khó khăn có thể được giải quyết một cách thành công; khi, thay vì, chúng ta mất sự kiểm soát tâm tính chúng ta qua thù ghét, vị kỷ, ganh tị, và giận dữ,  chúng ta đánh mất ý thức của sự phán đoán.  Tâm chúng ta trở nên mù quáng và ngay tại những thời khắc cuồng dã ấy bất cứ chuyện gì cũng có thể xảy ra, kể cả chiến tranh.  Vì vậy, thực tập từ bi và tuệ trí là thông dụng cho tất cả, đặc biệt cho những người có trách nhiệm điều khiển cả bộ máy của quốc gia, trong tay những ai nắm giữ quyền lực và cơ hội để  tạo dựng cấu trúc của một thế giới thanh bình.
NHỮNG TÔN GIÁO THẾ GIỚI VÌ THẾ GIỚI THANH BÌNH 
Những vấn đề chính thảo luận tiếp diễn phù hợp với đạo đức của tất cả những tôn giáo thế giới.  Chúng ta phải thấy  rằng đại đa số tôn giáo trên thế giới – Phật giáo, Thiên chúa giáo, Ấn giáo, Hồi giáo, Khổng giáo, Lão giáo, Do thái giáo, Bái hỏa giáo (Zoroastrianism), Kỳ na giáo (Jainism), đạo Sikh (Sikhism) – có cùng những ý tưởng giống nhau về lòng yêu thương , giống nhau về mục tiêu lợi ích cho nhân loại thông qua thực hành tâm linh, và giống nhau về tác động làm cho giáo đồ của chúng ta trở nên những người tốt đẹp hơn.  Tất cả những tôn giáo giáo huấn những giới điều đạo đức cho sự toàn hảo những phương diện của tâm, thân, và lời nói.  Tất cả đều dạy chúng ta không được lừa dối, trộm cắp hay lấy mạng sống của kẽ khác, v.v… Mục tiêu phổ thông của tất cả những giới điều đạo đức đề ra bởi những đạo sư vĩ đại của nhân loại là vô ngã, không vị kỷ.  Những đạo sư vĩ đại muốn giảng dạy để hướng dẫn giáo đồ xa rời những con đường của những hành vi tiêu cực bởi nguyên nhân của si mê, ám tối và phát sinh trong họ những con đường của tính tốt, của lòng hào hiệp.
Tất cả những tôn giáo nhất trí trên sự cần thiết kiểm soát cái tâm hoang dã, không được luyện tập ẩn chứa vị kỷ và những cội rể của những phiền muộn, rối rắm, bất an, và mỗi tôn giáo  dạy một con đường hướng đến một trạng thái tâm linh hòa bình, thuần hóa, đạo đức, và thông tuệ.  Trong nhận thức này chúng tôi tin tưởng tất cả mọi tôn giáo có một thông điệp cùng bản chất.  Những sự khác nhau của giáo lý có thể bị đổ lỗi đến sự khác nhau của thời đại và hoàn cảnh như sự ảnh hưởng của văn hóa; quả vậy, chưa bao giờ ngừng nghĩ sự tranh luận học thuật khi chúng ta xem xét đến khía cạnh tinh khiết tâm linh siêu hình của tôn giáo.  Tuy vậy, nó sẽ lợi ích hơn để cố gắng thực hành bổ sung trong cuộc sống hằng ngày sự chia sẻ những giáo huấn cho lòng hảo tâm, tính hào hiệp được dạy bởi tất cả những tôn giáo tốt hơn là để tranh luận về những khác biệt nhỏ nhoi khi tiếp cận.
Có nhiều tôn giáo khác nhau để mang đến sự thoải mái và hạnh phúc cho nhân loại trong nhiều phương pháp như những chửa trị cho những chứng bệnh khác nhau.  Tất cả những tôn giáo nổ lực phương pháp riêng của nhau để hổ trợ chúng sinh né tránh khổ đau và gặt hái hạnh phúc.  Và, mặc dù chúng ta có thể tìm những lý do căn bản nào đấy thích hợp để giải thích những chân lý của tôn giáo, có một nguyên nhân to lớn hơn nhiều để đoàn kết hòa hiệp, xuất phát từ trái tim con người.  Mỗi tôn giáo hoạt động trong đường hướng của chính mình để làm giảm bớt khổ đau của nhân loại và cống hiến đến nền văn minh thế giới.  Sự đổi đạo không phải là phương hướng.  Thí dụ, chúng tôi không nghĩ đến việc biến đổi những người khác trở thành Phật tử hay chỉ đơn thuần xa hơn vì lý do Phật giáo.  Tốt hơn, chúng tôi cố gắng nghĩ đến việc làm thế nào như một con người Phật tử có thể đóng góp đến hạnh phúc của con người.
Trong khi đề ra những điều tương tự căn bản của những tôn giáo thế giới, chúng tôi không biện hộ cho một tôn giáo đặc biệt nào để làm mất uy tín, hay bất lợi đến tất cả những tôn giáo khác, chúng tôi cũng không tìm kiếm một tôn giáo thế giới mới.  Tất cả những tôn giáo khác nhau trên thế giới cần làm phong phú cho kinh nghiệm của nhân loại và văn minh thế giới.  Tâm tính loài người chúng ta, hiện hữu phẩm chất, năng lực và khuynh hướng khác nhau, cần những tiếp cận khác nhau đến hòa bình và hạnh phúc.  Nó giống như thực phẩm.  Những người nào đấy tìm đến Cơ đốc giáo cảm thấy hấp dẫn hơn, những người khác thích Phật giáo bởi vì không có đấng tạo hóa trong nó và mọi thứ tùy thuộc trên những hành động của chính chúng ta.  Chúng ta có thể có những cuộc thảo luận tương tự cho những tôn giáo khác như thế.  Vì vậy, quan điểm thì rõ ràng, loài người cần tất cả những tôn giáo của thế giới để thích hợp với những cung cách sống, nhiều loại nhu cầu tâm linh khác nhau, và thừa kế truyền thống quốc gia của mỗi cá thể con người.
Từ viễn tượng này mà chúng tôi hoan nghênh những tác động hiện hữu đã làm  những phần khác nhau của thế giới cho sự hiểu biết hơn giữa những tôn giáo.  Sự cần thiết cho điều này đặc biệt cấp bách ngay bây giờ.  Nếu tất cả những tôn giáo hành động cải thiện nhân loại như sự quan tâm chính của họ, rồi thì họ có thể dễ dàng hoạt động hợp tác với nhau trong sự hoà hiệp cho thanh bình thế giới.  Sự cảm thông liên hệ của những người khác tín ngưỡng (sự hiểu biết liên tôn) sẽ mang đến sự đoàn kết hoà hiệp cần thiết cho mọi tôn giáo để hoạt động hợp tác với nhau. Tuy nhiên, mặc dù qủa thực đây là một bước quan trọng, chúng ta phải nhớ rằng không có những giải pháp nhanh chóng hay dễ dàng.  Chúng ta không thể che dấu những khác nhau của giáo điều đã tồn tại với những tín ngướng khác nhau, chúng ta cũng không hy vọng thay thế những tôn giáo hiện hữu bằng một tín ngưỡng toàn cầu mới.  Mỗi tôn giáo có những cống hiến  đặc biệt chính nó để hành động, và mỗi tôn giáo trong phương pháp riêng của minh thích hợp cho từng nhóm người như họ thông hiểu đời sống.  Thế giới cần tất cả mọi tôn giáo.
Có hai nhiệm vụ đối mặt với những hành giả tôn giáo, những người quan tâm đến hoà bình thế giới.  Thứ nhất, chúng ta phải đẩy mạnh sự hiểu biết liên tôn cũng như tạo nên một không khí có thể hoạt động được của sự hoà hiệp giữa tất cả các tôn giáo.  Điều này có thể đạt được từng bộ phận bằng sự tôn trọng những tín ngưỡng của những người khác và bằng sự nhấn mạnh sự quan tâm chung của chúng ta cho nhân loại tốt đẹp hơn.  Thứ hai, chúng ta phải đem sự đồng tâm nhất trí có thể thành tựu trên những căn bản giá trị tâm linh điều đã tác động mỗi trái tim con người và làm tăng hạnh phúc chung của loài người.  Điều này có nghĩa là chúng ta phải nhấn mạnh mẫu số chung của tất cả mọi tôn giáo - những ý tưởng nhân đạo.  Đây là hai bước sẽ cho phép chúng ta hành động một cách cá nhân và hợp tác để tạo nên những điều kiện tâm linh cần thiết cho hoà bình thế giới.
Chúng ta những hành giả thực tập những tín ngưỡng khác nhau có thể hợp tác hành động vì hoà bình thế giới khi chúng ta nhìn những tôn giáo khác nhau như những công cụ căn bản để phát triển một trái tim tốt, một hảo tâm - yêu thương và tôn trọng những kẻ khác, một ý thức cộng đồng chân thành.  Điều quan trọng nhất là nhìn vào mục tiêu của tôn giáo chứ không nhìn vào những diễn giải giáo điều hay siêu hình, điều có thể dẫn đến duy lý trí (sự quá nặng về trí óc).  Chúng tôi tin tưởng rằng đại đa số tôn giáo trên thế giới có thể cống hiến cho hoà bình thế giới và hợp tác với nhau vì lợi ích của con người nếu chúng ta để qua một bên những khác biệt siêu hình trừu tượng, điều thực sự  là công việc nội bộ, nhiệm vụ nội tâm của từng tôn giáo.
Bất chấp những tiến bộ thế gian phi tôn giáo đã mang đến bởi sự hiện đại hoá toàn cầu đổi mới và bất chấp những cố gắng có hệ thống của một số bộ phận của thế giới để phá huỷ những giá trị tinh thần, đại đa số nhân loại tiếp tục tin tưởng một tôn giáo này hay tôn giáo kia.  Sự bất tử của niềm tin tôn giáo, bằng chứng ngay cả dưới những hệ thống chính trị không tôn trọng tín ngưỡng hay phi tôn giáo rõ ràng minh chứng hiệu lực của tôn giáo như thế.  Năng lượng và sức mạnh tâm linh này có thể được sử dụng có ý nghĩa, và có tầm quan trọng để mang những điều kiện tâm linh cần thiết cho hoà bình thế giới.  Những lĩnh tụ tôn giáo và những nhà nhân đạo trên toàn thế giới có một vai trò đặc biệt hành động trong mối lưu tâm này.
Cho dù chúng ta sẽ có thể đạt đến hoà bình thế giới hay không, chúng ta không có lựa chọn nào khác mà phải hành động tiến tới mục tiêu ấy.  Nếu tâm tư chúng ta bị chế ngự bởi sân hận, giận dữ, chúng ta sẽ đánh mất đi phần tuyệt hảo thông minh của loài người - tuệ trí, khã năng quyết định giữa đúng và sai.  Sân hận, giận hờn là một trong những vấn đề nghiêm trọng nhất của thế giới ngày nay.
NĂNG LỰC CÁ NHÂN ĐỂ ĐỊNH HƯỚNG NHỮNG TỔ CHỨC
Sân hận đóng một vai trò không nhỏ trong những xung đột hiện tại như ở Trung Đông, Nam Á, Bắc và Nam, v.v... Những xung đột này khởi lên từ sự thất bại để hiểu biết nhân tính của người khác.  Câu trả lời không phải là sự phát triển hay dùng những lực lượng quân sự to lớn, mạnh mẽ hơn, cũng không là sự chạy đua vũ trang.  Nó cũng không là chính trị trong sạch hay kỷ thuật trong sạch.  Một cách căn bản nó là tâm linh, trong ý thức rằng điều gì đòi hỏi một ý thức hiểu biết trong vấn đề chung của nhân loại.  Thù ghét và chiến đấu không thể đem đến hạnh phúc cho bất cứ ai, ngay cả những kể chiến thắng của chiến trường.  Bạo lực luôn luôn sinh sản khốn cùng và vì vậy nó là sự sản xuất tiêu cực một cách căn bản.  Cho nên, nó là thời gian của những lãnh tụ thế giới học hỏi vượt thắng những khác biệt về chủng tộc, văn hoá, và tư tưởng và để lưu tâm những người khác qua đôi mắt thấy những vấn đề chung của nhân loại.  Vì làm như thế sẽ lợi ích cho những cá nhân, những cộng đồng, những quốc gia và rộng ra cho toàn thế giới.
...
Chúng tôi gợi ý rằng những lĩnh tụ thế giới gặp nhau mỗi năm một lần ở một địa điểm vô cùng xinh đẹp không nhầm một mục tiêu gì cả, chỉ gặp nhau để hiểu nhau như những con người.  Rồi thì, sau đấy, họ có thể gặp gở và thảo luận những vấn đề  hổ tương toàn cầu.  Chúng tôi chắc chắn rằng nhiều người sẽ chia sẻ ao ước của chúng tôi rằng  những lĩnh tụ của thế giới gặp gở tại bàn hội nghị trong một không khí tôn trọng lẫn nhau và hiểu nhau với tình người.
Để phát triển sự gặp gở cá nhân với cá nhân trên toàn thế giới, chúng tôi muốn thấy sự cổ vũ lớn hơn của du lịch quốc tế.  Cũng vậy, trong hoàn cảnh rộng lớn, đặc biệt là những xã hội dân chủ, có thể hành động một cống hiến to tát cho hoà bình thế giới bằng sự cho phép những tin tức rộng rãi hơn đến những thứ gợi phấn khích con người phản ánh tính chất căn bản hoà hiệp đồng nhất của nhân loại.  Với sự vươn lên của một ít cường quốc lớn trên vũ đài quốc tế, nhân đạo đóng vai trò trong những tổ chức quốc tế đang bị phớt lờ và hờ hửng.  Chúng tôi hy vọng rằng điều này sẽ được điều chỉnh và rằng tất cả những tổ chức quốc tế, đặc biệt là Liên Hiệp Quốc, sẽ được năng nổ và tác động hơn bảo đảm chắc chắn lợi ích tối đa cho nhân loại và đẩy mạnh, khuyến khích , tích cực ủng hộ sự hiểu biết quốc tế.  Thực vậy nó sẽ là thảm kịch nếu một ít cường quốc thành viên tiếp tục quên đi phần lớn của thế giới giống như Liên hiệp quốc là cho những cảm hứng một phía của họ.  Liên hiệp quốc phải trở nên phương tiện cho hòa bình thế giới.  Thân thể này, cơ cấu này, hội đồng này của thế giới phải được tôn trọng bởi tất cả, Liên hiệp quốc là niềm hy vọng duy nhất cho những quốc gia bị áp bức, nhược tiểu và vì lý do đấy cho toàn thể hành tinh chúng ta.
Khi tất cả những quốc gia mà kinh tế tùy thuộc trên những quốc gia khác hơn bao giờ hết, sự hiểu biết của nhân loại phải vượt khỏi những biên giới quốc gia và thích ứng theo cộng đồng quốc tế rộng lớn.  Thực vậy, ngoại trừ chúng ta có thể tạo nên một không khí hợp tác chân thành, đạt được không phải bởi đe dọa hay thật sự dùng đến vũ lực nhưng bằng sự thông cảm chân thành của con tim hiểu biết, những nan đề của thế giới sẽ chỉ tăng lên.  Nếu những người trong những quốc gia nghèo bị từ chối hạnh phúc mà họ khao khát và đáng được hưởng, tự nhiên họ sẽ không hài lòng và quy những vấn đề cho những nước giàu.  Nếu những hình thức xã hội, chính trị, và kinh tế không ai muốn bị tiếp tục lạm dụng, lừa gạt, phỉnh phờ không thiện ý với người dân,  sự đạt đến hòa bình thế giới thật đáng ngờ, hay không chắc chắn.  Tuy vậy, nếu chúng ta làm hài lòng mọi người ở cấp độ con tim với con tim, hòa bình sẽ đến một cách chắc chắn.
Trong mỗi quốc gia, cá nhân phải được trao cho quyền được hạnh phúc, và trong những quốc gia phải quan tâm bình đẳng cho quyền lợi của ngay cả những quốc gia nhỏ nhất.  Chúng tôi không đang gợi ý rằng hệ thống này tốt hơn hệ thống kia và tất cả nên được chấp nhận.  Trái lại, nhiều hệ thống chính trị và tư tưởng khác nhau là ước ao khao khát và phù hợp với những khuynh hướng khác nhau trong cộng đồng nhân loại.  Trạng thái muôn màu muôn vẻ này làm nổi bật yêu cầu không ngừng của nhân loại cho hạnh phúc.  Vì vậy mỗi cộng đồng nên tự do liên hệ gắn bó với hệ thống chính trị, kinh tế và xã hội của chính mình, trên cơ sở chính của sự tự quyết.
Việc đạt đến công lý, hòa hiệp, và hòa bình tùy thuộc trên nhiều nhân tố.  Chúng ta nên nghĩ về chúng trong những quan hệ của lợi ích nhân loại cho tương lai lâu dài hơn là định kỳ ngắn hạn.  Chúng tôi nhận thức được tầm cở công việc phía trước chúng ta, nhưng chúng tôi không thấy lựa chọn nào khác hơn những điều mà chúng tôi đã đề xuất – điều đặt căn bản trên lợi ích chung của nhân loại chúng ta.  Những quốc gia không có lựa chọn nào khác hơn mà phải quan tâm đến quyền lợi của nhau, không phải vì sự tin tưởng của họ ở nhân loại mà bởi vì nó là trong sự hổ tương và lợi ích lâu dài mà tất cả cùng quan tâm.  Một sự đánh giá đúng cho thực tế mới này được biểu thị  bằng sự lớn mạnh của những tổ chức kinh tế khu vực hay lục địa như Cộng đồng kinh tế Âu châu, Liên hiệp các quốc gia Đông Nam Á, Tổ chức tự do mậu dịch Châu Mỹ, v.v...Chúng tôi hy vọng các tổ chức trao đổi mậu dịch liên quốc gia sẽ được hình thành nhiều hơn, đặc biệt trong những khu vực nơi kinh tế phát triển và khu vực nguồn dự trử dường như thiếu thốn thường xuyên.
Dưới những điều kiện hiện tại, một cách rạch ròi dứt khoát có một nhu cầu lớn mạnh cho sự thông cảm của nhân loại và một ý thức trách nhiệm toàn cầu.  Để đạt được những mục tiêu này, chúng ta phải phát sinh một trái tim tốt và tử tế, một lòng hảo tâm và ân cần, nếu không có điều này, chúng ta có thể cũng không đạt được hạnh phúc toàn cầu hoặc cuối cùng cũng không đạt đến hoà bình thế giới.  Chúng ta không thể tạo dựng hoà bình trên giấy tờ.  Trong khi chủ trương trách nhiệm toàn cẩu và tình anh chị em toàn cầu, cơ sở lập luận là bản chất của loài người được tổ chức hoàn toàn riêng biệt với hình thức  những  xã hội của quốc gia. Vì vậy, trong nhận thức thực tế, chúng tôi cảm thấy những xã hội này phải hành động như những mãng cấu trúc cho hoà bình thế giới.
Những cố gắng đã được triển khai trong quá khứ nhầm tạo dựng những xã hội công bằng và bình đẳng hơn.  Những tổ chức đã được hình thành với những hiến chương cao quí để tranh đấu những năng lực chống xã hội.  Bất hạnh thay, những ý tưởng như thế đã từng bị lừa bịp bởi vị kỷ.  Hơn bao giờ  hết, ngày nay chúng ta chứng kiến đạo đức và những nguyên tắc cao quý bị che khuất bởi bóng tối của sự quan tâm vị kỷ, đặc biệt trong không khí của chính trị.  Có một trường phái tư tưởng cảnh báo chúng ta kiềm chế hoàn toàn với chính trị, như chính trị là đồng nghĩa với thiếu đạo đức.  Chính trị không đạo đức không giúp cho lợi ích của nhân loại, và đời sống không đạo đức hạ thấp loài người xuống trình độ của loài vật.  Tuy vậy, chính trị không phải hiển nhiên nhớp nhúa.  Tốt hơn là rằng, những công cụ văn hóa chính trị của chúng ta đã bóp méo những tư tưởng cao thượng và những quan niệm cao quý đóng góp cho lợi ích của nhân loại.  Đương nhiên, những người tinh thần biểu lộ sự quan tâm về những lĩnh tụ tôn giáo lẫn lộn với chính trị, khi họ e ngại chính trị hắc ám làm ô uế tôn giáo.
Chúng tôi tự hỏi một giả định thông thường rằng tôn giáo và đạo đức không vị trí trong chính trị và rằng nhân vật tôn giáo nên tự tách rời như những nhà ẩn dật hay khổ hạnh.  Những quan điểm như vậy của tôn giáo là quá thiên lệch; nó thiếu một viễn tượng thực sự đúng mực trong mối quan hệ của cá nhân và xã hội và vai trò của tôn giáo trong đời sống của chúng ta.  Đạo đức như điều cốt yếu quyết định đến một chính trị gia cũng như đối với một hành giả tôn giáo.  Những hậu quả nguy hại sẽ kéo theo khi những chính trị gia và người cầm quyền quên những nguyên tắc đạo đức chủ yếu.  Cho dù chúng ta tin tưởng ở Thượng Đế hay nghiệp báo nhân quả, đạo đức vẫn là nền tảng của mỗi tôn giáo.
Những phẩm chất của con người như đạo đức, từ bi, lịch sự, tuệ trí, v.v…đã là những nền tảng cuả tất cả mọi nền văn minh.  Những phẩm chất này phải được phát triển và duy trì thông qua hệ thống giáo huấn đạo đức trong một môi trường xã hội thuận lợi vì thế một thế giới nhân bản hơn có thể vươn lên.  Những phẩm chất đòi hỏi sáng tạo như một thế giới phải được thấm nhuần ngay từ lúc bắt đầu, từ tuổi thơ.  Chúng ta không thể chờ đợi để thế hệ sau làm sự thay đổi này, thế hệ hiện tại phải cố gắng làm mới những giá trị căn bản của loài người. Nếu có  bất cứ hy vọng nào, đấy là trong thế hệ sau, nhưng ngoại trừ chúng ta tiến hành sự thay đổi lớn lao trên bình diện toàn cầu trong hệ thống học vấn hiện tại của chúng ta.  Chúng ta cần một cuộc cách mạng trong nguyện ước của chúng ta để thực hành những giá trị nhân đạo toàn cầu.
Thật là thiếu sót khi đánh tiếng kêu gọi ngập ngừng sự suy luận đạo đức; chúng ta phải hành động về việc này.  Khi những chính quyền hiện tại không gánh trên vai trách nhiệm tôn giáo như thế, những lĩnh tụ nhân đạo và tôn giáo phải củng cố sự tồn tại những tổ chức công dân, xã hội, văn hóa, học vấn và tôn giáo, để làm sống lại những giá trị nhân bản và tâm linh.  Bất cứ nơi nào cần thiết, chúng ta phải tạo thành những tổ chức mới để đạt được những mục tiêu này.  Chỉ có trong những việc làm như thế có thể chúng ta hy vọng tạo nên một căn bản vững chắc cho hòa bình thế giới.
Sống trong xã hội, chúng ta nên chia sẻ những khổ đau của những đồng bào, công dân, của chúng ta và thực hành từ bi, lòng khoan dung và sự nhẫn nại không chỉ đối với những người thân yêu của chúng ta mà cũng đến với kẽ thù của chúng ta.  Đây là sự thể nghiệm sức mạnh đạo đức của chúng ta.  Chúng ta phải làm một cuộc trắc nghiệm bằng sự thực hành của chính chúng ta, cho điều mà, chúng ta không thể hy vọng thuyết phục người khác giá trị của tôn giáo chỉ bằng lời nói.  Chúng ta  phải sống trên cùng một trình độ liêm minh và hy sinh cao thượng mà chúng ta đã đòi hỏi ở kẻ khác.  Mục tiêu căn bản của tất cả mọi tôn giáo là phục vụ cho lợi ích của nhân loại.  Điều này là tại sao rất quan trọng rằng tôn giáo luôn luôn được sử dụng để tác động cho hạnh phúc và hòa bình của tất cả mọi loài chúng sinh và không chỉ cho những người thay đổi chính kiến.
Hơn nữa, trong tôn giáo không có những biên giới quốc gia.  Một tôn giáo có thể và nên được tiếp nhận và thực hành bởi bất cứ  ai tìm thấy lợi ích trong ấy.  Nhưng sự hòa nhập vào một tôn giáo đặc biệt nào đấy không có nghĩa là sự từ chối một tôn giáo khác hay cộng đồng của chính ai đấy.  Thực tế là, nó thật quan trọng rằng ai đấy nương tựa một tôn giáo không nên cắt đứt chính họ ra khỏi cộng đồng của họ; họ nên tiếp tục sống trong cộng đồng của chính họ và trong sự hòa hiệp với những thành viên của cộng đồng ấy.  Bởi vì bằng sự thoát ly khỏi cộng đồng của chính mình, chúng ta không thể làm lợi ích cho những người khác, trong khi mà lợi ích cho người khác lại thật sự là căn bản hướng vào của tôn giáo.
Trong mối lưu tâm này, có hai việc quan trọng để giữ trong tâm: tự trắc nghiệm và tự sửa sai.  Chúng ta nên liên tục kiểm soát thái độ chúng ta đối với những người khác, trắc nghiệm tự chính chúng ta một cách cẩn thận, và chúng ta nên sửa sai chính chúng ta ngay lập tức khi chúng ta tìm thấy chúng ta trong sự sai sót.
Cuối cùng, một vài lời về tiến trình vật chất.  Chúng tôi đã từng nghe rất nhiều lời phàn nàn về tiến trình vật chất với những người phương Tây, và tuy vậy, một cách nghịch lý, nó là điều rất tự hào của thế giới phương Tây.  Chúng tôi không thấy có gì sai với sự tiến bộ vật chất tự chính nó, người được cung cấp là luôn luôn cho trước.  Chúng tôi tin tưởng vững chắc rằng để giải quyết những vấn đề của nhân loại trong tất cả những tính chất của nó, chúng ta phải kết hợp và hòa điệu sự phát triển kinh tế với sự lớn mạnh của tâm linh.
Tuy vậy, chúng ta phải biết những giới hạn của nó.  Mặc dù những kiến thức vật chất,(duy vật, thế tục, trần gian) trong hình thức của khoa học và kỷ thuật đã cống hiến lợi ích một cách khổng lồ cho nhân loại, nó không có thể tạo nên hạnh phúc tận cùng.  Thí dụ, những nơi kỷ thuật phát triển thì có thể tiến bộ hơn những xứ sở khác, những vẫn còn rất nhiều những khổ đau tinh thần. Điều này bởi gì kiến thức vật chất thế gian chỉ có thể cung cấp một loại hạnh phúc tùy thuộc trên những điều kiện vật lý.  Nó không thể cung cấp hạnh phúc, điều, tuôn trào từ phát triển nội tại độc lập với những nhân tố ngoại tại.
Để làm mới những giá trị nhân bản và đạt đến hạnh phúc tận cùng, chúng ta cần xem di sản chung của nhân loại khắp các quốc gia trên toàn thế giới.  Mong rằng bài luận văn cung cấp một sự nhắc nhở cấp bách để chúng ta khỏi quên những giá trị nhân bản, điều đã liên kết tất cả chúng ta như một gia đình đơn độc trên địa cầu này.
Chúng tôi đã viết những dòng trên
Để nói với cảm xúc chung thủy của chúng tôi
Bất cứ khi nào chúng tôi gặp ngay cả một người ngoại quốc
Chúng tôi luôn luôn có một cảm giác giống nhau
Chúng tôi đang gặp một thành viên khác của gia đình nhân loại
Thái độ này làm sâu thêm
Ảnh hưởng và tôn trọng của chúng tôi cho tất cả chúng sinh
Cầu cho nguyện ước tự nhiên này là
Sự cống hiến nhỏ nhoi của chúng tôi cho hòa bình thế giới
Chúng tôi cầu nguyện cho tình thân hữu hơn
Ân cần hơn và hiểu biết hơn
Gia đình nhân loại trên hành tinh này.
Cho tất cả những ai không thích khổ đau.
Những người yêu quý hạnh phúc tận cùng
Đây là lời khẩn thiết chân thành của chúng tôi!
A Human Approach to World Peace
http://dalailama.com/page.62.htm
Tuệ Uyển chuyển ngữ 
29-07-2008
 


NGHIỆP - HẠNH PHÚC - TÂM

NGHIỆP - HẠNH PHÚC - TÂM


-His Holiness the Dalai Lama-

Hàng tỉ năm trôi qua giữa thời khởi thỉ của thế giới này và khi sự sống lần đầu tiên xuất hiện trên mặt đất.  Sau đấy là khoảng thời gian dài lâu để cho sự sống hình thành trở nên trưởng thành trong suy tư- trong sự phát triển và hoàn thiện năng lực tuệ trí của chúng; và ngay cả từ trong thời gian loài người đạt đến sự trưởng thành như hiện tại, hàng nhiều nghìn năm đã trôi qua. Xuyên qua thời gian bao la này thế giới đã chịu đựng những sự đổi thay không ngớt, để nó có thể ở trong trạng thái tiếp diễn liên tục. Ngay cả hiện tại, thuyết tương đối phát sinh gần đây cho biết điều xuất hiện trong thời gian ngắn duy trì tĩnh tại được thấy đã trãi qua sự thay đổi trong từng khoảnh khắc. Người ta có thể tự hỏi điều gì đã được duy trì không thay đổi khi mà mỗi loại vật chất và hiện tượng tâm linh dường như là chủ thể lúc nào cũng thế cho chương trình chuyển biến, của tính thay đổi. Tất cả những thứ ấy là mãi mãi khởi sinh, phát triển và biến mất. Trong cơn lốc của tất cả những sự thay đổi này, có một Sự Thật đơn độc duy trì liên tục và không thay đổi được-trong ngôn ngữ khác, đấy là, Sự Thật Chính đáng thì đi kèm với kết quả lợi ích, và sự thật của những hành động xấu ác thì đi kèm với kết quả tổn hại. Một nhân lành sẽ sinh quả lành, một nhân xấu sẽ sinh quả xấu. Tốt hay xấu, lợi ích hay tổn hại, mỗi kết quả tất yếu phải có một nhân. Nguyên tắc độc hành này là vĩnh cữu, không thay đổi và liên tục. Điều này là một sự thật đã hiện hữu lâu xa trước khi một người bước vào thế giới này, trong thời điểm bình minh của sự hiện diện của người ấy, trong thời gian hiện tại, và nó sẽ tiếp tục theo đuổi với thời gian tương lai vô cùng tận.
Tất cả chúng ta khao khát hạnh phúc và né tránh khổ đau cùng bất cứ thứ gì không hài lòng.Như chúng ta đã biết, niềm vui thích và đớn đau sinh khởi từ một nguyên nhân. Không kể là những hậu quả hiển nhiên nào đấy cũng là do một nguyên nhân hay bởi nhiều nguyên nhân đã được quyết định bởi bản chất tự nhiên của hậu quả ấy. Trong vài trường hợp,  ngay cả nếu những nhân tố nguyên nhân không quá mạnh cũng không quá áp đảo, nó vẫn có thể  làm cho nhân tố kết quả xãy ra. Bất cứ phẩm chất của nhân tố kết quả như thế nào, hoặc là chúng tốt hay xấu, sự to lớn và cường độ của chúng tương ứng một cách trực tiếp với số lượng và mãnh lực của nhân tố nguyên nhân. Vì vậy, để thành công trong việc tránh những điều khổ đau không mong đợi và gặt hái được những niềm vui thích khát khao, vấn đề này tự nó không phải nhỏ, đấy là sự từ bỏ một khối lượng lớn những thu thập nhân tố nguyên nhân được yêu cầu.
Trong sự phân tích bản chất tự nhiên và trạng thái của hạnh phúc, nó được biểu hiện rõ ràng qua hai phương diện. - Một là niềm vui tức khắc (tạm thời); và thứ hai là niềm vui tương lai (cơ bản). Niềm vui tạm thời bao gồm sự nhàn hạ và thích thú , là những điều con người ao ước như nơi cư trú tốt, vật dụng đáng yêu, thức ăn ngon miệng, hợp tác tốt đẹp, đối thoại vui lòng, v.v và v.v... Nói một cách khác, sự thoả mãn tạm thời là những điều mà con người vui thích trong đời sống này. Câu hỏi là không biết sự hưởng thụ của những hoan hỉ và thỏa lòng này có nhận được một cách trong sạch từ những (nhân tố) nhu cầu ngoại tại được thể nghiệm trong ánh sáng của luận lý lôgic rõ ràng không. Nếu nhân tố ngoại tại chịu trách nhiệm một mình để cho hưng khởi những cảm hứng hỉ lạc như vậy, một người sẽ vui sướng khi những điều này hiện diện, và ngược lại họ sẽ buồn phiền khi chúng vắng mặt. Tuy nhiên, điều này không phải như vậy. Bởi vì, ngay cả trong khi vắng mặt những điều kiện ngoại tại đưa đến sự khoái cảm, một người vẫn có thể vui vẻ và yên bình. Điều này chứng minh rằng, những nhân tố ngoại tại không chịu trách nhiệm một mình nó cho sự kích thích hạnh phúc con người. Có đúng là những nhân tố ngoại tại duy nhất chịu trách nhiệm hay chúng là toàn bộ điều kiện để cho sự hưng khởi của hoan lạc và hạnh phúc không, nếu vậy một người sở hữu một sự giàu có  những nhân tố này sẽ có một sự hỉ lạc hạn chế. điều này không luôn luôn có nghĩa như vậy. Điều đúng là những nhân tố ngoại tại này thật sự công hiến một phần để tạo nên sự hoan lạc trong đời sống con người. Tuy vậy, nếu  tuyên bố rằng những nhân tố ngoại tại là tất cả, là cần thiết và vì vậy là nguyên nhân độc nhất của hạnh phúc trong khoảng thời gian ngắn ngủi của đời sống con người là phát biểu trì trệ và phi lý. Nó có nghĩa không chắc chắn là sự hiện diện của những nhân tố ngoại tại như vậy sẽ tạo nên hạnh phúc. Trên phương diện ngược lại, căn cứ trên những gì xãy ra như kinh nghiệm của hạnh phúc to lớn nội tại -mặc dù vắng mặt toàn bộ những an lạc có được do những nhân tố ngoại tại, và thường vắng mặt hạnh phúc mặc dù chúng (nhân tố ngoại tại) hiện diện-, một cách rõ ràng chi cho thấy nguyên nhân của hạnh phúc tuỳ thuộc trên một tập hợp khác nhau của những điều kiện.
Nếu chúng ta bị  lầm lạc rằng,  bởi những điều bàn luận về những (nhân tố ngoại tại) điều kiện được đề cập ở trên    là nguyên nhân duy nhất cấu thành  của hạnh phúc cho đến sự loại trừ bất cứ những điều kiện nào khác tạo ra , điều ấy hàm ý rằng (kết quả) hạnh phúc thì liên đới với những nguyên nhân bên ngoài một cách không thể tách rời. Sự hiện diện hay vắng mặt của hạnh phúc được quyết định độc quyền bởi chúng nhưng việc thực tế rõ ràng không đủ chứng cớ  chứng tỏ rằng nguyên nhân ngoại tại không cần thiết hay hoàn toàn chịu trách nhiệm đến  kết quả của (hiện tượng) hạnh phúc.
Bây giờ, điều gì khác của tập hợp những nguyên nhân nội tại? Chúng được giải thích như thế nào? Là những Phật tử, tất cả chúng ta tin ở luật nghiệp báo- luật tự nhiên của nhân và quả. Bất cứ những (điều kiện) nguyên nhân nội tại của người nào đấy xuyên qua trong đời sống tiếp theo là  kết quả từ những tích tập của những hành động của cá nhân trong những đời sống trước đây. Khi năng lực nghiệp báo của những hành vi quá khứ chín muồi, một người cảm nhận vui thích hay ưu phiền. Chúng không gì khác hơn mà chỉ là hậu quả của những hành động của người ấy trong quá khứ. Điều quan trọng nhất để hiểu là, khi những kết quả thích đáng của những nghiệp báu từ tất cả những hành động quá khứ xuất hiện, những nhân tố ngoại tại của người ấy liên kết như những thuận duyên. Điều xãy đến liên hệ với những điều kiện xuyên qua hành động (nghiệp) và những nhân tố ngoại tại  sẽ sản sinh trạng thái tinh thần thoãi mái. Về mặt khác, nếu thiếu vắng điều kiện thiết yếu cho kinh nghiệm vui thích nội tại thì sẽ không có cơ hội cho những nhân tố bên ngoài thích ứng, hay ngay cả nếu những nhân tố bên ngoài hiện diện, sẽ không thể làm cho một người được kinh nghiệm vui thích. Điều này chỉ cho thấy rằng nhân tố nội tại là căn bản trong những điều này, và đấy là nhân tố chính quyết định hiện thực của hạnh phúc hay ngược lại. Vì vậy, để đạt được những kết quả khao khát, điều khẩn thiết cho chúng ta là phải tích tập cùng lúc cả hai  nguyên nhân-tạo nên nhân tố ngoại tại và nguyên nhân-tạo nên nhân tố nội tại ( nghiệp ).—( Hay nguyên nhân nội tại là nhân và nguyên nhân ngoại tại là duyên.)----
Để phát biểu vấn đề một cách đơn giản hơn, cho sự tích tập cuả nhân tố lành nội tại (thiện nghiệp), những gì cần thiết chính như  những phẩm chất như là một ít nhu cầu, sự toại ý, sự nhún nhường, sự giản dị, và những đức tính quý báu khác. Thực hành những nhân tố nội tại này sẽ thuận tiện ngay cả chuyển biến những nhân tố ngoại tại  đã  kể trước đây chúng sẽ biến đổi thuận tiện ngay cả chuyển hoá những ích lợi đặc trưng cho sự sinh khởi của hạnh phúc. Sự vắng mặt của những nhân tố nội tại thích đáng, như có một ít nhu cầu của sự toại ý, nhẫn nại, tha thứ, v.v... sẽ ngăn trở người ấy hưởng thụ sướng vui, hạnh phúc ngay cả khi tất cả những nhân tố ngoại tại hiện diện. Bên cạnh điều ấy, người ta còn phải có nguồn năng lực của công nghiệp và đức hạnh tích tập trong những đời quá khứ. Nếu khác đi, những hạt giống hạnh phúc không thể tạo thành quả phúc được.
Vấn đề có thể đặt ở một cách khác. Sự vui thích và thất vọng, hạnh phúc và khổ đau kinh nghiệm bởi mỗi cá nhân là những kết quả không thể tránh được của những hành động lợi lạc hay xấu ác mà người ấy đã gây ra, vì vậy được thêm vào tàng thức người ấy. Nếu tại một thời điểm nhất định trong đời sống hiện tại này những quả lành do những thiện nghiệp chín muồi người ấy sẽ thể nhận được, nếu đấy là một người thông thái, thì đấy là những quả phúc của những hành vi sáng suốt đáng khen trong quá khứ. Điều này sẽ tưởng thưởng và khuyến khích người ấy đạt thêm phước nghiệp.
Một cách đơn giản, khi người nào xãy ra kinh nghiệm khổ đau hay không hài lòng, người ấy có thể chịu đựng một cách trầm tĩnh nếu người ấy duy trì một sự tin chắc không giao động rằng, cho dù người ấy có mong ước hay không, người ấy phải đau khổ và mang lấy những hậu quả của chính những hành vi người ấy đã làm trong quá khứ, mặc dù sự thật bình thường người ấy thường thấy rằng cường độ và mức độ,của sự thất vọng thì rất khó để chịu đựng, hay mang lấy. Bên cạnh, nhận thức rằng chúng không là gì nhưng chỉ là kết quả của những hành động vụng về trong quá khứ sẽ làm người ấy đủ thông minh chừa bỏ những hành động vụng về từ nay trở đi. Giống như vậy, tư tưởng hài lòng rằng,- với sự chín muồi của những nghiệp xấu trong quá khứ, và phần quả xấu bởi những hành động xấu trong quá khứ đã hiện ra,- sẽ là niềm an ủi, khích lệ lớn lao cho người ấy.
Một sự đánh giá đúng đắng tuệ trí này sẽ góp phần hiểu thấu bản chất để đạt được yên bình cho thân và tâm. Thí dụ, giả sử một người bất ngờ bị đau khổ với chấn thương vật lý trầm trọng qua một nhân tố ngoại tại. Nếu, chỉ là  năng lực tuyệt đối của ý chí ( căn cứ trên sự tin chắc rằng người ấy tự chịu trách nhiệm cho những bất hạnh và khổ đau hiện tại), người ấy có thể vô hiệu hoá sự tăng gia khổ đau rồi thì tâm tư người ấy sẽ thoãi mái và yên tĩnh.
Bây giờ để chúng tôi giải thích điều này trong một trình độ khá hơn, cao hơn. Sự quan tâm, sự phấn đấu, và thực thi này là điều có thể làm một cách có hệ thống để tiêu huỷ những điều bất như ý và nguyên nhân của chúng.
Như đã nói ở trước, vui sướng hay khổ đau, hạnh phúc hay bất như ý là kết quả của những hành động tốt hay xấu của một người. Những hành động tốt hay xấu (nghiệp) không là những hiện tượng ngoại tại. Chúng tuỳ thuộc một cách có căn bản vào tình trạng của tâm. Làm những cố gắng tích cực để tạo dựng mọi thứ có thể của thiện nghiệp và đẩy xa chúng ta khỏi những vết tích của bất thiện nghiệp, là con đường để sáng tạo hạnh phúc và tránh sự tạo đớn đau và khổ sở. Đấy là điều vẫn thường thấy rằng một kết quả vui vẻ theo sau một nhân lành và hậu quả xây dựng bởi nguyên nhân vụng về là khổ đau.
Vì vậy, quan trọng nhất, chúng ta cố gắng mọi ý nghĩa có thể để gia tăng phẩm chất và khối lượng của những hành động thiện xảo và làm những hành động tương ứng cắt xén bớt những hành động vụng về của chúng ta.
Làm thế nào để việc này được hoàn thành? Những nguyên nhân đáng khen thưởng và ngược lại, kết quả hạnh phúc và khổ đau không tương đồng với đối tượng bên ngoài. Thí dụ, trong cơ thể con người hệ thống gồm những phần khác nhau như phổi, tim, và những bộ phận khác có thể thay thế bằng những bộ phận mới. Nhưng điều này không như vậy với những hành động của nghiệp, điều tịnh hoá tâm. Sự thu thập công nghiệp tươi tốt và sự tiêu huỷ những nhân xấu, là quá trình tịnh hoá tâm linh. Chúng không thể đạt được với bất cứ sự giúp đở nào ở bên ngoài. Phương pháp duy nhất để hoàn thành là bằng sự kiểm soát và luyện tập tâm chưa thuần hoá (cho đến nay). Cho điều này, chúng ta đòi hỏi một sự nhận thức đầy đủ hơn yếu tố gọi là TÂM.
Qua những cánh cửa của năm giác quan một chúng sinh thấy, nghe, ngữi, nếm và dẫn đến sự tiếp xúc với các hình sắc tiếp nhận bên ngoài, các đối tượng, ấn tượng. Hãy để hình sắc, âm thinh, mùi hương, vị nếm, tiếp xúc và những sự kiện tinh thần, những điều liên hệ với sáu thức cảm giác được đóng lại. Khi điều này được hoàn tất sự thu thập những sự kiện quá khứ trên việc điều tâm hướng đến để động não (suy nghĩ ủ ê, nghiền ngẫm), sẽ hoàn toàn bị đoạn dứt và dòng chảy của ký ức bị cắt đứt. Một cách đơn giản, những dự tính cho tương lai và sự dự định hành động tương lai không được phép hưng khởi. Cần thiết phải tạo một không gian, nơi tâm trở nên rỗng không với tất cả những trình tự như vậy, trong nơi của tất cả những chương trình như vậy của tư tưởng (dự tính,dự định,dự kiến).Tự tại với tất cả những trình tự như vậy nơi ấy duy trì một tâm tinh khiết, trong sáng, rõ rệt và tịch tĩnh. Bây giờ hãy để chúng ta kiểm nghiệm những đặc điểm nào cấu thành "tâm" khi nó đạt đến trạng thái này. Một cách chắc chắn rằng chúng ta sở hữu điều gọi là "tâm", nhưng làm thế nào để chúng ta thể nhận được sự hiện hữu của nó? Thực tế và bản chất của "tâm", điều được tìm thấy khi toàn bộ gánh nặng của những điều trở ngại và lầm lạc nói chung (nhận thức của các giác quan, ký ức suy tư.v.v...) được làm sạch bóng. Thấy rõ, sâu sắc diện mạo này của thật tâm, chúng ta sẽ khám phá rằng, không giống như những đối tượng ngoại tại, thật tính bản nhiên của nó là xa rời hình thể hay màu sắc, mà có thể chúng ta (cũng không) tìm thấy bất cứ căn bản nào chính xác cho những điều sai lầm  và những khái niệm lừa dối như vậy như:  "tâm" vốn dĩ từ điều này hay điều kia, hay là  "tâm" di chuyển từ nơi này đến nơi nọ, hay là  "tâm" được xác định vị trí ở nơi như vậy và như vậy. Đến khi tiếp xúc được với không đối tượng tâm giống như một điều trống không rộng rãi vô biên, hay như một đại dương bình lặng, trong sáng và vô tận. Khi thình lình chạm trán với một đối tượng nó lập tức nhận ra ngay đối tượng của nó, như một tấm gương lập tức phản chiếu một người đứng trước nó. Bản chất thật sự của tâm không chỉ gồm có nhận thức rõ ràng đối tượng nhưng cũng truyền đạt kinh nghiệm cụ thể của đối tượng đến người kinh nghiệm qua nó. (* Đây là hai khía cạnh, thể nhận tri thức và truyền đạt kinh nghiệm liên hệ để biết điều gì là đối tượng và cảm giác, nếm, thấy,...thế nào). Một cách bình thường, những hình thức của các tri giác của chúng ta như: nhận thức của mắt, nhận thức của tai, v.v... diễn tả những chức năng trên những hiện tượng bên ngoài trong thái độ liên hệ méo mó toàn bộ. Kiến thức kết quả trên nhận thức cảm giác, căn cứ trên toàn bộ những hiện tượng bên ngoài, cũng là toàn bộ tự nhiên. Khi toàn bộ kích thích loại này bị đóng kín và khi những kinh nghiệm cụ thể và nhận thức trong sáng khởi lên từ trong ấy, tâm thể hiện đặc tính trống không vô tận giống như  không gian vô biên. Nhưng cái "không" này không được xem như thật tính tự nhiên của tâm.  Chúng ta phải trở nên thật quen thuộc với sự nhận thức đến  hình thể và màu sắc của toàn bộ những đối tượng, khi chúng ta tập trung sự tự quán sát bên trong đến tính bản nhiên của tâm, nó là, như chúng tôi đã nói, được tìm thấy là một sự trống không vô tận tự tại với bất cứ sự u tối vô minh hay  những chướng ngại nào khác. Tuy vậy, điều này không có nghĩa là chúng ta đã thấy rõ thật tính tinh tế bản nhiên của tâm. Những điều được giải thích ở trên liên quan đến trạng thái của tâm trong sự liên hệ với kinh nghiệm cụ thể và nhận thức trong sáng bởi tâm, những điều là chức năng của nó, nhưng nó chỉ diễn tả tính bản nhiên tương đối của tâm.
Thêm một vài khía cạnh và trạng thái khác của tâm. Trong ngôn ngữ khác, thể nhận tâm ở mức độ căn bản nhất, có nhiều thuộc tính liên hệ đến nó. Chỉ như củ hành bao gồm những lớp chồng chất lên nhau và có thể bóc ra, vì vậy mỗi một đối tượng có vô số lớp chồng chất;  và điều này không sai với tính bản nhiên của tâm được giải thích ở đây; nó cũng vậy, có lớp này trong lớp nọ, trạng thái này trong trạng thái kia.
Tất cả những sự, những vật được hợp thành là những đối tượng để tan rã. Vì kinh nghiệm và kiến thức là vô thường và là đối tượng để tan rã, cho nên "tâm", với những chức năng (tự nhiên), không phải là điều gì ấy được duy trì bất biến và vĩnh cữu. Từ từng khoảnh khắc nó phải thay đổi và tàn hoại. Sự chuyển biến này của tâm là khía cạnh tự nhiên của nó. Tuy vậy, khi chúng ta quán sát, thật tính tự nhiên của tâm có nhiều khía cạnh, bao gồm những nhận thức của những kinh nghiệm cụ thể và tri thức của những đối tượng. Bây giờ chúng ta hãy thể nghiệm xa hơn để hiểu thấu ý nghĩa tinh tế căn bản của một tâm như thế. Tâm hiện hữu bởi nguyên nhân của chính nó. Để phủ nhận căn nguyên của tâm   tuỳ thuộc vào một nguyên nhân, hay nói rằng nó được mệnh danh như một phương tiện để nhận ra bản chất của tập hợp tâm, thì không đúng. Với sự  quán sát nông cạn của chúng ta, tâm, có kinh nghiệm cụ thể và nhận thức rõ rệt như tính tự nhiên của nó, xuất hiện như một thực thể toàn năng, độc lập, thống trị một cách hoàn toàn ở khắp nơi. Tuy nhiên, phân tích sâu hơn sẽ thấy rằng tâm này, sở hữu như nó làm chức năng của kinh nghiệm và nhận thức, nó không là một thực thể tự sáng tạo nhưng lệ thuộc vào những nhân tố khác cho sự tồn tại của nó. Vì lý do này nó tuỳ thuộc vào những điều khác hơn chính nó. Phẩm chất không độc lập này của căn bản của tâm là thực tính tự nhiên của nó trong điều khiến đấy là nền tảng thực sự của chính nó.
Ở hai khía cạnh này, thật tính cơ bản tự nhiên của tâm và một kiến thức của thực tính cơ bản tự nhiên đấy, điều trước là căn bản và điều kế tiếp là thuộc tính. Tâm (tự ngã) là căn bản và tất cả nhũng trạng thái khác nhau của nó là những thuộc tính. Tuy vậy, căn bản và những thuộc tính, điều căn bản-đầu tiên có cùng thể chất với từng đơn vị-những thuộc tính. Sự sáng tạo vô ngã (tuỳ thuộc trên một nguyên nhân khác chính nó) thực thể tâm (nền tảng căn bản) và bản chất của nó, tính không, có sự tồn tại một cách không ngừng như một thực chất , giống nhau, không thể tách rời từ khởi nguyên vô thỉ. Tính tự nhiên của tính không toả khắp tất cả mọi yếu tố. Bây giờ khi chúng ta và vì chúng ta không thể hiểu thấu hay nhận thức thấu đáo sự bền bỉ, tự nhiên, nền tảng thực sự (tính không) của tâm chúng ta, chúng ta tiếp tục liên luỵ vào những sai lầm và những thiếu sót của chúng ta vẫn cứ dai dẳng.
Nhận tâm như chủ thể và thực tại cơ bản của tâm như đối tượng của nó, chúng ta sẽ đạt đến một sự thấu hiểu thích đáng với bản chất thực tính của tâm... thực tại tột cùng của tâm. Và khi, sau một thời gian dài kiên nhẫn thiền định, chúng ta sẽ nhận biết và hiểu thấu thực tại tột cùng của tâm, là điều lìa xa những đặc tính của nhị nguyên, chúng ta sẽ dần dần có thể làm rỗng không ảo tưởng và những khiếm khuyết của những tư tưởng trung tâm và phụ thuộc như giận dữ, thích phô trương, ghanh ghét, thèm muốn, v.v...
Thất bại trong việc nhận diện tính bản nhiên của tâm sẽ được vượt thắng qua việc đạt được năng lực nhận biết thực tại cơ bản của tâm. Điều này lại sẽ nhỗ gốc của khát dục và thù ghét cùng tất cả cội rễ của những vọng tưởng phụ thuộc khác của chúng ta từ căn bản. Vì thế, không có chỗ để tích tập những nghiệp không lành.
Theo những nghĩa này việc tạo những ác nghiệp ảnh hưởng cho những đời sống tương lai sẽ bị loại trừ; chúng ta sẽ có thể gia tăng chất lượng và số lượng của điều kiện nguyên nhân công hạnh lành và để trừ tiệt gốc sự tạo tác điều kiện nguyên nhân tổn hại ảnh hưởng những đời sống tương lai-ngoài những nghiệp xấu tích tập trước đây ra.
Trong việc thực hành để đạt được kiến thức toàn hảo của thực tính bản nhiên của tâm, đòi hỏi những cố gắng tích cực và tập trung tinh thần để nhận biết thấu đáo đối tượng. Trong những điều kiện bình thường của chúng ta như hiện tại, khi tâm chúng ta tiếp xúc với bất cứ gì nó liền bị lôi cuốn tức thì. Điều này khiến sự nhận hiểu bất lực. Vì vậy, để đạt được năng lực tịch tĩnh to lớn của tinh thần, sự nổ lực thật tối đa là đòi hỏi cấp thiết nhất. Thí dụ như, một dòng sông lớn trôi chảy qua một vùng mở rộng sẽ có rất ít năng lực, nhưng khi nó xuyên qua một dốc núi hẹp tất cả nước tập trung trong một không gian hẹp và vì vậy nó tuôn chảy với một mãnh lực lớn. Với một lý do đơn giản tất cả những điều xao lãng của tinh thần, điều lôi cuốn tâm xa rời với đối tượng quán chiếu được tránh và tâm duy trì kiên định không chuyển trên đối tượng. Ngoại trừ điều này được hoàn tất, sự thực hành để đạt được một sự thấu hiểu thích đáng thực tính bản nhiên của tâm sẽ hoàn toàn thất bại.
Làm cho tâm thuần thục ngoan ngoản,  là điều căn bản cho chúng ta rèn luyện và kiểm soát nó tốt đẹp. Lời nói và hành động của thân là điều tương ứng với trình tự của tinh thần, tuyệt không cho phép nó diễn tiến trong chiều hướng vô ý, thả lỏng, và bừa bãi. Chỉ như một huấn luyện viên luyện tập và trầm tĩnh một con ngựa hoang bướng bỉnh bằng khuất phục nó và sự rèn luyện dài lâu. Vì vậy những hành động hoang dã, rong ruỗi, bừa bãi phải được thuần hoá và làm chúng ngoan ngoản, chính đáng, và thiện xảo. Vì vậy những lời Dạy của Đức Thế Tôn bao gồm trong ba chủ đề, đó là giới (rèn luyện đạo đức cao thượng), định (rèn luyện thiền định cao thâm) và tuệ trí (rèn luyện tuệ trí cao xa), tất cả đấy là để dành cho rèn luyện tâm.
Bằng việc học tập, thiền định và thực hành tam vô lậu học trong phương pháp này, chúng ta hoàn thành tiến trình thực chứng. Một người luyện tập sẽ được phú cho phẩm chất tuyệt vời của khã năng có thể chịu đựng một cách kiên nhẫn những bất hạnh và khổ đau, những điều là kết quả những nghiệp chướng quá khứ của người ấy.
Người ấy sẽ quan tâm sự bất hạnh của chính họ như chuyện không may mà lại hoá may,  làm cho người ấy sáng tỏ ý nghĩa của nghiệp báo và làm cho người ấy nhận thức thấy sự cần thiết để tập trung tiến hành duy chỉ những hành động đạo nghiệp xứng đáng mà thôi. Nếu nghiệp xấu quá khứ của người ấy chưa trổ quả, nó sẽ vẫn có thể được xoá sạch những nghiệp chưa chín này bằng việc sử dụng sức mạnh của bốn năng lực:
1- Quyết định đạt đến Phật quả;
2- Quyết định tránh làm những hành vi sai trái lỗi lầm, ngay cả cái giá của một đời sống;
3- Tiến hành những hành vi tốt lành;
4- Sám hối.
Đấy là con đường để đạt được hạnh phúc trực tiếp,tức thời, gần nhất, để mở đường cho đạt đến giải thoát và giúp chúng ta tránh tích tập những lỗi lầm xa hơn.


-Tuệ Uyển dịch-




NHỮNG KHÔNG GIAN TÂM LINH

NHỮNG KHÔNG GIAN TÂM LINH


His Holiness the Dalai Lama


HAI TRÌNH ĐỘ TÂM LINH

Anh chị em, chúng tôi muốn thuyết giảng về chủ đề những giá trị tâm linh bằng sự giải nghĩa hai trình độ tâm linh.
Để bắt đầu, để chúng tôi nói rằng như những chúng sinh chúng ta căn bản tập trung vào là để có một cuộc sống hạnh phúc vui vẻ; tất cả chúng ta đều muốn trải qua kinh nghiệm của hạnh phúc.  Đấy là tự nhiên cho chúng ta để tìm kiếm hạnh phúc.  Đây là mục tiêu của đời sống chúng ta.  Lý do thật rõ ràng: khi chúng ta mất đi hy vọng, kết quả là chúng ta bị chán nản, buồn phiền, hay trì trệ và có thể ngay cả tự tử.  Vì vậy, sự tồn tại thực của chúng ta có gốc rể một cách mạnh mẻ trong hy vọng.  Mặc dù không có gì bảo đảm cho những điều sẽ mang tới trong tương lai.  Đấy là bởi vì chúng ta có hy vọng rằng chúng ta có thể tiếp tục sống. Vì vậy, chúng ta có thể nói rằng mục tiêu của đời sống của chúng ta, chủ tâm của đời sống chúng ta, là hạnh phúc vui vẻ.
Loài người không phải được sản xuất bằng máy móc.  Chúng ta không chỉ là sự kiện, chúng ta hơn thế ấy, chúng ta có cảm giác và kinh nghiệm.  Lý do ấy, chỉ sự thoải mái vật chất đơn độc không đủ.  Chúng ta cần những gì sâu sắc hơn, thâm diệu hơn, điều mà chúng tôi thường ám chỉ đến như lòng nhân, hay tình người, hay từ bi thương yêu.  Với ảnh hưởng của lòng nhân, hay tình người, hay từ bi thương yêu, tất cả những phát triển vật chất mà chúng ta có ở sự xếp đặt, bố trí, thực hiện của chúng ta có thể rất xây dựng và có thể sản sinh những kết quả tốt.  Tuy vậy, nếu không có lòng nhân hay tình người, những phát triển vật chất đơn độc sẽ không làm chúng ta hài lòng, thỏa mãn, hoặc chúng sẽ cũng không sản sinh trong chúng ta bất cứ không gian nào của tâm linh hòa bình hay hạnh phúc.  Vì vậy, lòng nhân hay tình người, hay từ bi thương yêu, là chìa khóa đến hạnh phúc của nhân loại.

TRÌNH ĐỘ TÂM LINH THỨ NHẤT: NHỮNG TÔN GIÁO CỦA THẾ GIỚI VÀ NHỮNG GIÁ TRỊ CỦA TÔN GIÁO ĐỐI VỚI NHÂN LOẠI
Trình độ tâm linh thứ nhất. cho tất cả loài người ở mọi nơi, là tín ngưỡng một trong nhiều tôn giáo của thế giới.  Chúng tôi nghĩ có một vai trò quan trọng của cho mỗi một tôn giáo của đa số tôn giáo thế giới, nhưng để cho tôn giáo hành hoạt một cống hiến tác động đến lợi ích của nhân loại từ khía cạnh tôn giáo, có hai nhân tố quan  trọng cần lưu tâm.
Nhân tố thứ nhất là mỗi hành giả của những tôn giáo khác nhau - đấy là, tự chính chúng ta - phải thực hành một cách chân thành.  Giáo nghĩa tôn giáo là một bộ phận căn bản thiết yếu của đời sống chúng ta; giáo lý không nên bị tách biệt với cuộc sống chúng ta.  Thỉnh thoảng chúng ta đến nhà thờ hay chùa viện và dâng lời cầu nguyện, hay phát sinh một loại cảm giác tâm linh, và rồi thì, khi ra khỏi Phật đường hay Thánh đường, không có một cảm xúc tôn giáo nào được duy trì tồn tại.  Đấy không là một phương pháp chính đáng để thực hành-thọ trì.  Thông điệp của tôn giáo phải luôn theo chúng ta bất cứ nơi nào chúng ta đến.  Những lời dạy của tôn giáo chúng ta phải hiện diện trong đời sống chúng ta như vậy vì thế khi chúng ta thật sự cần hay thỉnh cầu gia hộ hay nội lực mạnh mẽ, những lời dạy sẽ hiển lộ ngay nơi ấy ngay cả tại những thời gian như vậy; sự cảm ứng hiện tiền nơi ấy khi chúng ta trải qua những khó khăn bởi vì nó hằng hiện hữu ở  bên chúng ta.  Chỉ khi tôn giáo trở thành một bộ phận thiết yếu của đời sống chúng ta thì tôn giáo mới có thể thực sự tác động ảnh hưởng.
Chúng ta cũng cần kinh nghiệm một cách sâu xa hơn, thâm diệu hơn trong những ý nghĩa và giá trị tâm linh của truyền thống tôn giáo của chính chúng ta – chúng ta cần biết những lời dạy này không chỉ trên một cấp độ lý trí nhưng cũng xuyên qua kinh nghiệm thâm sâu hơn của chính chúng ta.  Thỉnh thoảng chúng ta hiểu biết tư tưởng những tôn giáo khác nhau ở trình độ quá nông cạn,quá thiển cận hay quá lý trí.  Không có một kinh nghiệm cảm xúc tâm linh chân thật hơn, sâu sắc hơn, tác động của tôn giáo trở nên giới hạn.  Vì vậy, chúng ta phải thực hành – thọ trì một cách chân thật, và tôn giáo phải trở nên một phần của đời sống chúng ta.

SỰ QUAN TRỌNG CUẢ MỘT MỐI QUAN HỆ THÂN HỮU GẦN GŨI GIỮA CÁC TÔN GIÁO
Nhân tố thứ hai là quan tâm hơn với sự ảnh hưởng qua lại giữa các tôn giáo khác nhau trên thế giới.  Ngày nay, vì sự thay đổi phát triển kỷ thuật và tự nhiên của kinh tế thế giới, chúng ta lệ thuộc vào những người khác hơn bao giờ hết.  Những xứ sở khác nhau, những lục địa khác nhau, đã trở nên hợp tác một cách gần gũi hơn với nhau.  Trong thực tế sự tồn tại của một vùng, một khu vực của thế giới tùy thuộc vào những vùng và khu vực khác.  Vì vậy, thế giới trở nên thật gần gũi hơn, tùy thuộc liên đới nhiều hơn.  Như một kết quả, có nhiều sự tác động qua lại của nhân loại hơn.  Dưới một tình trạng như vậy, ý tưởng của chủ nghĩa đa phương giữa các tôn giáo thế giới là rất quan trọng.  Trong quá khứ, khi những cộng đồng sống biệt lập với nhau và những tôn giáo phát khởi trong sự cô lập liên hệ.  Ý nghĩ rằng chỉ có một tôn giáo rất phổ biến.  Nhưng ngày nay tình thế đã thay đổi, và những hoàn cảnh đã hoàn toàn khác nhau.  Bây giờ, vì vậy, thật là thiết yếu để chấp nhân sự kiện là sự tồn tại hiện hữu của nhiều tôn giáo khác nhau, để phát triển sự tôn trọng chân thành giữa các tôn giáo; tiếp xúc thân cận giữa các tôn giáo khác nhau là căn bản quyết định. Đấy là nhân tố thứ hai để các tôn giáo thế giới sẽ có thể được tác động ảnh hưởng đến lợi ích của nhân loại.
Khi chúng tôi ở Tây tạng, chúng tôi không có tiếp xúc với những người thuộc những tín ngưỡng tôn giáo khác nhau, vì vậy thái độ của chúng tôi trước những tôn giáo khác không mấy tích cực.  Nhưng khi đã có cơ hội gặp gở với những người khác tín ngưỡng và học hỏi tử kinh nghiệm và tiếp xúc cá nhân, thái độ cuả chúng tôi trước những tôn giáo khác đã thay đổi.  Chúng tôi nhân thức sự hữu dụng thế nào đến với nhân loại của những tôn giáo khác nhau, và khả năng tiềm tàng nào của mỗi tôn giáo cống hiến cho một thế giới tốt đẹp hoàn hảo hơn.  Trong những thế kỷ gần đây, những tôn giáo khác nhau đã có những cống hiến vĩ đại trước sự cải thiện cho nhân loại, và ngay cả hôm nay có một số lượng lớn những giáo đồ của Ki tô giáo, Hồi giáo, Do thái giáo, Phật giáo, Ấn giáo v.v…Hàng triệu tín đồ đang được lợi lạc từ tất cả những tôn giáo này.
Để cho một thí dụ về giá trị của cuộc gặp gở của những người từ những tín ngưỡng khác nhau, những cuộc gặp gở của chúng tôi với cố tu sĩ dòng Trappist Mỹ, Thomas Merton (1915-1968), đã làm cho chúng tôi nhận thấy rõ, một người tuyệt vời, kỳ diệu thế ấy. Trong một dịp khác chúng tôi đã gặp gở với một tu sĩ Gia tô giáo ở Monserrat, một trong những tu viện nổi tiếng của Tây ban nha.  Chúng tôi được kể lại rằng tu sĩ này đã từng sống vài năm như một ẩn sĩ trên một ngọn đồi chỉ ở sau tu viện.  Khi chúng tôi viếng thăm tu viện, ông đi xuống từ ẩn mật thất một cách đặc biệt để gặp chúng tôi.  Khi cuộc gặp gở xảy ra, tiếng Anh của ông còn kém hơn ngay cả tôi, và điều này đã cho tôi can đảm hơn để nói chuyện với ông!  Chúng tôi đã duy trì diện đối diện, và chúng tôi hỏi han: “Trong những năm ấy, tu sĩ đã làm gì trên ngọn đồi ấy?”  Ông nhìn tôi và trả lời. “Thiền định về từ bi, về yêu thương.”  Khi ông nói ít lời ấy, chúng tôi đã hiểu thông điệp qua đôi mắt ông ta.  Chúng tôi thật sự dâng tràn lòng cảm phục với người tu sĩ này và cho những ai giống như tu sĩ ấy.  Những kinh nghiệm như thế đã giúp củng cố trong tâm chúng tôi rằng tất cả những tôn giáo thế giới có khả năng để sản sinh những người tốt, những người có đạo đức, những người có lòng từ bi lớn,  bất chấp những sự khác nhau về triết lý và giáo nghĩa của tôn giáo.  Mỗi truyền thống tôn giáo có  một thông điệp diệu kỳ để truyền đạt.
Thí dụ, từ quan điểm của đạo Phật khái niệm về một đấng tạo hóa là không hợp lý; bởi vì những phương pháp mà đạo  Phật phân tích về thuyết nhân quả, cho nên nó là một khái niệm (đấng tạo hóa) khó khăn cho những người Phật tử để hiểu.  Tuy nhiên, đây không phải là nơi để bàn luận về những vấn đề triết lý.  Điểm quan trọng ở đây là cho những người giáo đồ theo những giáo lý mà trong điều căn bản của tín ngưỡng là một đấng tạo hóa, điều tiếp cận ấy thì rất ảnh hưởng.  Theo những truyền thống ấy, cá nhân con người được tạo ra bởi Thượng đế.  Hơn thế nữa, như chúng tôi vừa học từ một trong những người bạn Ki tô giáo, họ không chấp nhận triết lý tái sinh, vì vậy, không chấp nhận những đời sống quá khứ hay tương lai.  Họ chỉ chấp nhận cuộc sống này.  Tuy  nhiên, họ chấp giữ rằng kiếp sống hiện tại này là được tạo nên bởi Thượng đế, bởi đấng tạo hóa, và ý tưởng ấy phát triển trong họ một cảm nhận mật thiết với Thượng đế.  Lời dạy quan trọng nhất của họ là do từ ý chí của Thượng đế mà chúng ta hiện diện nơi đây, tương lai chúng ta tùy thuộc trên đấng tạo hóa, và bởi vì đấng tạo hóa được xem như là thánh thiện và tối thượng, chúng ta phải yêu mến Thượng đế, đấng tạo hóa.

Những điều từ lời dạy này là chúng ta nên yêu mến những đồng loại chúng sinh loài người của chúng ta – đây là thông điệp chính ở đây.  Lý do là nếu chúng ta yêu mến Thượng đế, chúng ta phải yêu mến đồng loại loài người của chúng ta bởi vì họ giống như chúng ta, được tạo nên bởi Thượng đế.  Tương lai của họ, giống như chúng ta, tùy thuộc trên đấng sáng thế, vì vậy, hoàn cảnh cuả họ giống như chính chúng ta.  Bởi thế, tín ngưỡng của những người nói rằng, “yêu mến Thượng đế” nhưng tự họ không tỏ ra chân thành yêu mến trước những người đồng loại là đáng nghi ngờ.  Người tin tưởng ở Thượng đế và trong sự yêu mến Thượng đế phải làm sâu sắc thêm tính thành khẩn của sự yêu mến của họ đối với Thượng đế qua tình yêu thương trực tiếp đến những người đồng loại.  Điều tiếp cận này rất mạnh mẽ, có đúng không?
Vì vậy, nếu chúng ta trắc nghiệm mỗi tôn giáo từ những góc cạnh khác nhau trong cùng một phương phá – không đơn giản từ chính vị thế triết học của chúng ta nhưng từ một vài điểm của quan niệm – có thể không nghi ngờ rằng tất cả đại đa số tôn giáo đều có khả năng phát triển nhân loại.  Điều này là rõ rang.  Thông qua sự tiếp xúc thân cận với những tín ngưỡng khác nhau có thể phát triển một thái độ tư tưởng khoáng đạt và sự tôn trọng lẫn nhau đến những tôn giáo khác nhau.  Sự tiếp xúc gần gũi với những tôn giáo khác nhau giúp chúng tôi học hỏi những ý tưởng mới, những sự thực hành mới, và những phương pháp mới hay những kỷ thuật mới mà chúng tôi có thể kết hợp với những sự thực hành của chính chúng tôi.  Một cách tương tự, một số các anh chị em Ki tô hữu của chúng tôi đã tiếp nhận những phương pháp nào đấy của Phật giáo – thí dụ, sự thực hành “nhất niệm tâm” cũng như những kỷ năng để giúp phát triển tính bao dung, tâm từ bi, và lòng yêu thương.  Có những lợi ích to lớn khi những hành giả của những tôn giáo khác nhau đến với nhau cho những sự trao đổi thế này.  Thêm vào sự phát triển hòa hiệp giữa nhau, có những lợi ích khác cũng gặt hái được.
Những chính trị gia và lĩnh tụ quốc gia thường nói về “cùng tồn tại” và “đến với nhau”.  Cũng với những người tôn giáo của chúng ta, tại sao không,? Chúng tôi nghĩ rằng thời điểm đã đến.  Tại Assisi vào năm 1987, thí dụ. những lãnh tụ và đại biểu của những tôn giáo khác nhau trên thế giới gặp gở và cùng cầu nguyện, mặc dù chúng tôi không chắc chắn “cầu nguyện” có phải là từ ngữ chính xác để diễn tả sự thực hành của tất cả những tôn giáo này một cách đúng đắn hay không.  Trong bất cứ trường hợp nào, điều gì là quan trọng để những đại diện của những tôn giáo khác nhau đến với nhau tại một địa điểm và , theo từng tín ngưỡng để nguyện cầu.  Điều này đã đang xảy ra rồi và,  chúng tôi nghĩ, là một sự phát triển rất tích cực.  Tuy nhiên, chúng ta vẫn cần đặt tác động hơn trước trước sự tăng tiến hòa hiệp và thân cận giữa những tôn giáo thế giới, vì rằng không có những tác động như thế, chúng ta sẽ tiếp tục trải qua vô số vấn đề đã, đang và sẽ chia rẻ nhân loại.
Nếu tôn giáo đã là phương pháp cứu chửa duy nhất để giảm thiểu xung đột của nhân loại, nhưng phương pháp ấy tự nó trở nên một nguồn gốc khác của sự xung đột, đấy quả là bất hạnh tai hại thay.  Ngày nay, như trong quá khứ, những xung đột xảy ra nhân danh tôn giáo, bởi vì sự khác nhau của những tôn giáo, và chúng tôi nghĩ rằng điều này là buồn thật buồn.  Nhưng như chúng tôi đã lưu ý trước đây, nếu chúng ta nghĩ một cách thoáng đạt rộng rãi, sâu sắc, chúng ta nhận thấy rằng hoàn cảnh trong quá khứ hoàn toàn khác biệt với tình thế ngày nay.  Chúng ta không còn cô lập nữa nhưng chúng ta tùy thuộc lien đới với nhau.  Ngày nay, vì vậy, rất quan trọng để nhận thức rằng một sự liên hệ gần gũi giữa những tôn giáo khác nhau là thiết yếu, vì vậy những nhóm tôn giáo khác nhau có thể hoạt động gần gũi với nhau và  làm một tác động chung cho lợi ích của loài người.
Vì vậy, tính thành khẩn và tín ngưỡng trong thực hành tôn giáo trên một phương diện; và tính bao dung và hợp tác tôn giáo là phương diện khác, bao gồm cấp độ thứ nhất này của những giá trị thực hành tâm linh đến nhân loại.

TRÌNH ĐỘ TÂM LINH THỨ HAI:      TỪ BI YÊU THƯƠNG NHƯ MỘT TÔN GIÁO TOÀN CẦU
Trình độ tâm linh thứ hai quan trọng hơn thứ nhất bởi vì, không cần biết bất cứ kỳ diệu thế nào tôn giáo có thể, nó vẫn được chấp nhận chỉ với một số lượng người rất giới hạn   Đại đa số của năm hay sáu tỉ người trên hành tinh chúng ta thật sự không thực hành-thọ trì hay quy hướng bất cứ một tôn giáo nào.  Theo quá khứ gia đình, họ có thể tự minh chứng thuộc về một tôn giáo này hay tôn giáo kia – “Tôi là người Ấn giáo”, “Tôi là người Phật giáo”, “Tôi là người Ki tô giáo” – nhưng sâu trong tâm hồn, hầu hết những cá nhân này không nhất thiết là một hành giả của bất cứ một tín ngưỡng nào.  Điều ấy cũng tốt thôi, cho dù họ là một người đi theo một tôn giáo hoặc không đi nữa thì đấy là quyền cá nhân của người ấy.  Tất cả những đạo sư vĩ đại thời xưa như Phật Thích Ca, Mahavira, Giê-su Ki-tô, Mohammed, thất bại trong việc chuyển hóa tâm linh toàn nhân loại.  Sự việc là không ai có thể làm việc ấy.  Cho dù những người không tín ngưỡng ấy bị gọi là vô thần không thành vấn đề.  Thực vậy, theo những học giả phương Tây, Phật giáo đồ cũng là những người vô thần, bởi vì họ không chấp nhận một đấng tạo hóa.  Vì vậy, chúng tôi thỉnh thoảng thêm vài từ ngữ để diễn tả những người không tín ngưỡng này, và đó là cực đoan, chúng tôi gọi họ là những người không tín ngưỡng cực đoan.  Những người ấy không chỉ không tín ngưỡng mà họ còn cực đoan trong quan điểm của họ trong điều mà họ cố chấp là tính chất tinh thần-tâm linh không có giá trị.  Nhưng chúng ta phải nhớ rằng những người ấy cũng là một bộ phận của nhân loại, và rằng họ cũng giống như tất cả loài người hiện hữu, có khao khát được hạnh phúc – để có một đời sống vui tươi và hòa bình.  Đây là điểm quan trọng.
Chúng tôi nghĩ rằng cũng chẳng sao để duy trì những người không tín ngưỡng, nhưng các vị cũng là một bộ phận của loài người, quý vị cũng là những con người, quý vị cần tình cảm nhân loại, từ bi yêu thương của nhân loại.  Điều này thật sự là giáo huấn căn bản của tất cả mọi truyền thống tôn giáo; điểm cốt yếu là từ bi thương yêu, hay tình cảm con người, lòng nhân đạo.  Không có tình cảm con người, ngay cả những tín ngưỡng tôn giáo có thể trở nên tiêu cực, không xây dựng, hay tàn phá.  Vì vậy, căn bản thiết yếu, ngay cả trong tôn giáo, là một trái tim tốt, một lòng hảo tâm.  Chúng tôi có ý kiến là tình cảm con người, hay từ bi bác ái, là tôn giáo toàn cầu.  Cho dù một người tín ngưỡng hay một người không tín ngưỡng, mọi người cần tình cảm loài người, hay từ bi thương yêu, bởi vì từ bi thương yêu cho chúng ta sức mạnh nội tại, hy vọng, và sự hòa bình của tâm hồn.  Vì vậy, nó cần thiết cho mọi người.
Hãy để chúng ta, thí dụ, trắc nghiệm lợi ích của trái tim tốt, hay lòng hảo tâm trong đời sống hằng ngày.  Nếu chúng ta trong một tâm trạng tốt khi thức dậy vào buổi sáng, nếu có một cảm giác của trái tim ấm áp, tự động cánh cửa nội tâm của chúng ta được mở ra cho ngày ấy.  Ngay cả có một người không thân thiện bên cạnh, chúng ta không cảm thấy phiền toái nhiều và có thể chúng ta  ngay cả chủ động nói những lời lịch sự dễ thương với người ấy.  Chúng ta có thể đối thoại với những người không mấy thân thiện và có thể ngay cả một cuộc nói chuyện đầy ý nghĩa.  Nhưng vào một ngày khi tâm trạng chúng ta kém tích cực và chúng ta cảm thấy cáu kỉnh, bực dọc, tự động cánh cửa nội tại đóng lại.  Như một hậu quả, ngay cả chạm trán với một người bạn thân, chúng ta cảm thấy không thoải mái, không tự nhiên.  Những thí dụ này chỉ dẫn làm thế nào những tình trạng và quan điểm nội tại làm nên một sự khác biệt lớn lao trong kinh nghiệm hằng ngày của chúng ta.  Vì vậy, để tạo nên một không khí vui vẻ dễ thương trong chính chúng ta, trong gia đình chúng ta, trong những cộng đồng chúng ta, chúng ta phải nhận thức rằng cội nguồn căn bản của không khí tươi mát thân thương ấy là trong mỗi cá nhân, trong mỗi chúng ta – một trái tim tốt, một lòng hảo tâm, lòng từ bi thương yêu của con người.
Một khi chúng ta tạo dựng một không khí bằng hữu tích cực, nó tự động giúp chúng ta giảm thiểu sợ hãi, và không an toàn.  Trong cách này chúng ta dễ dàng có thêm bạn và tạo nên nhiều nụ cười hơn.  Xét cho cùng, chúng ta là xã hội của loài vật hay thế giới hoang dã nếu không có tình thân hữu nhân loại, không có nụ cười của loài người, đời sống chúng ta trở nên khốn cùng.  Cảm giác đơn côi trở nên không thể chịu nổi.  Nó là luật tự nhiên – điều ấy nói là, theo luật tự nhiên chúng ta tùy thuộc trên những người khác để sống.  Nếu dưới những tình trạng nào đấy, bởi vì có gì sai sót, lầm lẫn bên trong chúng ta, thái độ chúng ta đối với những người đồng loại, trên những người chúng ta tùy thuộc liên đới, trở nên không thân thiện, làm thế nào chúng ta hy vọng đạt đến hòa bình của tâm hồn hay cuộc sống hạnh phúc?  Tâm hòa bình – Thế giới thanh bình.  Theo căn bản tự nhiên của loài người hay luật tự nhiên, tình cảm – từ bi yêu thương – là chìa khóa của hạnh phúc.
Theo y học hiện thời, một trạng thái tinh thần tích cực, hay một tâm hồn yên bình, thì cũng có lợi ích cho sức khỏe vật lý.  Nếu chúng ta liên tục bị dao động, chúng ta cuối cùng làm tổn hại sức khỏe của chúng ta.  Vì vậy, ngay cả từ quan điểm của sức khỏe chúng ta, tinh thần tịch tĩnh, và yên bình thanh thản là rất quan trọng.  Điều này chỉ cho thấy rằng cơ thể vật lý tự nó biết thưởng thức và đáp ứng đến tình cảm con người, sự yên bình của tâm con người.

CƠ SỞ TỰ NHIÊN CỦA CON NGƯỜI
Nếu chúng ta nhìn vào cơ sở tự nhiên của con người, chúng ta thấy rằng tự nhiên của chúng ta thì hiền lành-thuần thiệp hơn là hiếu động-gây hấn. Nếu chúng ta trắc nghiệm những thú vật khác nhau, chúng ta chú ý rằng những loài vật của một tự nhiên thanh bình hơn có một cấu trúc cơ thể tương ứng, trong khi những con thú săn mồi có một cấu trúc cơ thể phát triển theo tự nhiên của chúng.  So sánh con cọp và con nai; có một sự khác nhau to lớn trong cấu trúc vật lý của chúng.  Khi chúng ta so sánh cấu trúc cơ thể của chúng ta với chúng, chúng ta thấy rằng chúng ta giống những con nai và con thỏ hơn là những con cọp.  Ngay cả răng chúng ta thì giống chúng hơn, có phải không?  Chúng không giống răng của cọp.  Móng của chúng ta là một thí dụ khác tốt hơn – chúng ta không thể bắt một con chuột chỉ với      móng tay người.  Dĩ nhiên, bởi vì sự thông minh của con người, chúng ta có thể phát minh sáng chế và sử dụng những dụng cụ và những phương pháp để hoàn tất những sự việc, sự vật mà có thể khó khăn để hoàn thành nếu không có chúng.  Vì vậy, như chúng ta có thể thấy, do bởi điều kiện vật lý của chúng ta chúng thuộc vào loài vật hiền lành.  Chúng tôi nghĩ đây là cơ sở căn bản tự nhiên của con người như được biểu hiện bởi cấu trúc cơ bản vật lý.

TỪ BI YÊU THƯƠNG VÀ GIẢI QUYẾT XUNG ĐỘT
Trong hoàn cảnh hiện tại của trái đất chúng ta, hợp tác là căn bản, đặc biệt trên những phạm vi như kinh tế và giáo dục (học vấn).  Quan điểm cho rằng những khác nhau là quan trọng không ít thì nhiều đã biến mất, như được chứng minh bởi sự vận động vì một liên hiệp Âu châu.  Chúng tôi nghĩ, cuộc vận động này thật sự tuyệt vời và thật đúng thời. Tuy vậy sự hoạt động thân cận giữa các quốc gia này không phải xảy ra do bởi từ bi yêu thương hay tín ngưỡng tôn giáo, mà đúng hơn là bởi vì cần thiết.  Có một sự lớn mạnh trên thế giới đối với sự thức tỉnh toàn cầu.  Dưới những hoàn cảnh hiện tại một quan hệ gần gũi hơn với nhau trở nên yếu tố của sự sống còn hiện hữu của chúng ta.  Vì vậy, khái niệm của trách nhiệm toàn cầu đặt cơ sở trên từ bi yêu thương và trên một tình cảm anh chị em là thiết yếu bây giờ.  Thế giới đầy những xung đột – xung đột do bởi tư tưởng, do bởi tôn giáo, ngay cả xung đột trong những gia đình; những xung đột căn cứ trên việc người này muốn điều này, và người khác muốn điều khác.  Vì vậy, nếu chúng ta xét nghiệm nguồn gốc những xung đột này, chúng ta tìm ra nhiều nguyên nhân khác nhau, nhiều nguồn gốc khác nhau, ngay cả trong chính chúng ta.
Tuy nhiên trong lúc ấy, chúng ta có tiềm lực và khả năng để đến với nhau trong hòa hiệp.  Tất cả những việc khác này là liên hệ. Mặc dù có nhiều nguồn gốc của xung đột, cùng lúc cũng có nhiều tiềm năng đem đến sự đoàn kết và hòa hiệp. Thời cơ đã đến để nhấn mạnh hơn trên sự hợp đoàn.  Ở đây một lần nữa phải có tình cảm nhân loại, tình người.  Thí dụ, quý vị có thể có một ý niệm vể tư tưởng hay tôn giáo khác với những người khác.  Nếu quý vị tôn trọng quyền của những người khác và chân thành biểu lộ một thái độ từ bi thương yêu đối người ấy, rồi thì không có gì quan trọng cho dù ý kiến của người ấy có thích hợp với quý vị hay không, đấy là thứ yếu.  Cho đến khi người ấy vẫn còn tin tưởng trong đấy, cho đến khi người ấy vẫn lợi ích với quan niệm như vậy, đấy là quyền lợi thật sự, hoàn toàn, và thuần túy của người ấy.  Vì vậy chúng ta phải tôn trọng và chấp nhận sự kiện là sự tồn tại của những quan điểm khác biệt. Trong thế giới của kinh tế cũng thế, những người ganh đua cũng phải nhận một số quyền lợi, bởi vì họ cũng cần phải tồn tại.  Khi chúng ta có một viễn cảnh rộng rãi hơn đặt trên cơ sở của từ bi yêu thương, chúng tôi nghĩ những sự việc trở nên dễ dàng hơn. Một lần nữa, từ bi yêu thương là nhân tố chìa khóa.

GIẢI TRỪ QUÂN BỊ
Ngày nay, tình trạng thế giới chúng ta đã được làm bớt căng thẳng một cách đáng kể.  May mắn thay, bây giờ chúng ta có thể nghĩ và nói một cách nghiêm chỉnh về giải trừ quân bị, hay tối thiểu ý tưởng về giải trừ quân bị.  Năm năm về trước, hay có thể ngay cả gần đây như hai năm về trước, thật khó khăn ngay cả nói về nó, nhưng bây giờ Chiến tranh lạnh giữa Liên Sô và Hoa Kỳ đã qua rồi.  Với sự lưu tâm đến Hoa Kỳ, chúng tôi luôn nói với những người bạn Hoa Kỳ của chúng tôi rằng, “Sức mạnh đến không từ vũ khí hạt nhân nhưng từ ý tưởng cao quý của tổ tiên quý vị về tự do, giải phóng, và dân chủ”.  Khi ở Hoa Kỳ vào năm 1991, chúng tôi có cơ hội gặp gở cựu Tổng thống George Bush.  Lúc ấy chúng tôi đã bàn thảo về Trật tự thế giới mới, và chúng tôi đã nói với ông rằng, “Một trật tự thế giới mới với từ bi yêu thương là rất tốt. Chúng tôi không chắc về một Trật tự thế giới mới mà không có từ bi yêu thương.”  Chúng tôi bây giờ tin rằng thời điểm đã chin muồi để nghĩ và nói về  giải trừ quân bị.  Có những dấu hiệu sẵn sàng về giảm thiểu vũ khí cho lần đầu tiên, giải trừ quân bị.  Từng bước  từng bước,  chúng ta đang thấy một sự giảm thiểu quân bị, và chúng tôi nghĩ mục tiêu của chúng ta nên giải thoát thế giới – hành tinh bé nhỏ của chúng ta – khỏi vũ khí.  Tuy nhiên, điều này không có nghĩa là chúng ta nên phá hủy tất cả những loại vũ khí.  Chúng ta có thể giữ lại một số, vì luôn luôn có một số những người và những nhóm tác hại ở xung quanh chúng ta.  Để phòng ngừa và được bảo vệ an toàn đối với những nguồn tác hại này, chúng ta nên xây dựng một hệ thống của lực lựơng cảnh binh giám sát quốc tế khu vực, không nhất thiết thuộc một quốc gia nào nhưng kiểm soát chung và quản lý một cách căn bản bởi một tổ chức như Liên hiệp quốc hay một tổ chức quốc tế tương tự như vậy.  Bằng cách ấy, không có vũ khí sẵn sàng, sẽ không có hiểm họa xúng đột quân sự giữa các quốc gia, và cúng không có những cuộc nội chiến.
Chiến tranh vẫn tồn tại, một cách đáng buồn thảm, một phần của lịch sử nhân loại cho đến hiện tại, nhưng chúng tôi nghĩ thời điểm đã đến để thay đổi những nhận thức khái niệm mà đã dẫn đến chiến tranh.  Một số người có ý kiến rằng chiến tranh là những gì vinh quang; họ nghĩ là thông qua chiến tranh họ có thể trở nên những anh hùng.  Thái độ thông tục này đối với chiến tranh là rất sai lạc.  Gần đây trong một cuộc phỏng vấn đáng lưu ý đến chúng tôi. “người phương Tây rất sợ hãi với cái chết, nhưng người phương Đông dường như rất ít sợ hãi cái chết”. Cho vấn đề ấy, chúng tôi trả lời nữa đùa rằng: “Dường như đối với chúng tôi là, với tâm lý phương Tây, chiến tranh và tổ chức quân đội là cực kỳ quan trọng.  Chiến tranh có nghĩa là chết – bằng sự giết chóc, không phải do nguyên nhân tự nhiên.  Vì vậy, nói tóm lại, dường như quý vị là những người không sợ chết, bởi vì các vị quá thích với chiến tranh. Trái lại, chúng tôi, đặc biệt là người Tây Tạng, không thể ngay cả lưu ý đến chiến tranh, chúng tôi không thể nghĩ đến chiến đấu , bởi vì kết quả không thể tránh của chiến tranh là thảm họa: chết chóc, thương tật, và khốn cùng.  Vì vậy, khái niệm của chiến tranh, trong tâm chúng tôi là cực kỳ tiêu cực. Điều ấy có nghĩa là chúng tôi thực sự sợ hãi chiến tranh hơn các vị. Quý vị có nghĩ như thế chứ?”  Đáng tiếc thay, do bởi những nhân tố như thế đấy, ý kiến về chiến tranh của chúng tôi thì không đúng.  Vì vậy, thời điểm đã đến để suy nghĩ một cách nghiêm khắc về giải trừ quân bị.
Chúng tôi đã cảm thấy điều này một cách rất mạnh mẽ trong khi và sau khi sự cố vùng Vịnh Ba tư (Persian Gulf).  Dĩ nhiên, mọi người quy trách nhiệm cho Saddam Hussein, và không có câu hỏi rằng Saddam Hussein là một người tiêu cực – ông ta đã làm nhiều lỗi lầm và hành động một cách sai lầm trong nhiều cách.  Cuối cùng, ông ta là một nhà độc tài, và một nhà độc tài, dĩ nhiên, có những thứ tiêu cực.  Tuy vậy, nếu không có tổ chức quân đội, không có vũ khí, Saddam Hussein không thể vận hành như một nhà độc tài.  Ai đã cung cấp vũ khí?  Những người cung cấp phải chịu một phần trách nhiệm. Những quốc gia cung cấp vũ khí cho ông ta mà không nghĩ đến hậu quả.
Chỉ nghĩ đến tiền, của sự lợi nhuận từ việc bán vũ khí thì thật là khủng khiếp.  Chúng tôi đã một lần gặp một phụ nữ Pháp, người đã nhiều năm ở Beirut, Li-băng. Bà ta nói với chúng tôi một cách buồn bả rằng trong thời gian xảy ra sự cố ở Beirut có những người đã kiếm được lợi nhuận tại một thành phố do bán vũ khí và cùng ngày ấy đến bán tại một thành phố khác, những người vô tội khác bị giết với những vũ khí ấy.  Tương tự như vậy, một phía này của hành tinh chúng ta, có những người hoang phí do lợi nhuận từ việc bán vũ khí, thì ở phía khác của hành tinh chúng ta có những người vô tội phải chết vì những viên đạn ấy.  Vì vậy, bước  đâu tiên phải dừng bán vũ khí.  Thỉnh thoảng chúng tôi đùa với những người bạn Thụy Điển của chúng tôi rằng: “Ô, quý vị thật là tuyệt vời.  Trải qua những thời điểm cuối cùng của xung đột quý vị vẫn duy trì trung lập. Và quý vị luôn luôn quan tâm đến việc quan trọng của nhân quyền và hòa bình thế giới.  Thật là tốt.  Nhưng cùng lúc quý vị đang bán rất nhiều vũ khí.  Đây có một chút gì mâu thuẫn, có phải không?”
Vì vậy, từ thời điểm của sự cố Vùng vịnh Ba tư, chúng tôi tự làm một lời hứa trong tâm rằng – nguyện rằng cho đến hết cuộc đời của mình, chúng tôi sẽ cống hiến xa hơn cho một ý tưởng của giải trừ quân bị.  Đến khi mà xứ sở của chính chúng tôi được quan tâm, chúng tôi nguyện trong tâm mình rằng trong tương lai, Tây Tạng nên được hoàn toàn là một khu vực phi quân sự.  Một lần nữa, trong hành động để mang đến sự giải trừ quân bị, nhân tố then chốt là lòng từ bi yêu thương của nhân loại.

KẾT LUẬN:  Ý NGHĨA CỦA TỪ BI YÊU THƯƠNG
Chúng tôi đã nói nhiều về từ bi yêu thương mà chưa giải thích ý nghĩa chính xác của nó.  Chúng tôi muốn kết luận bằng việc giải thích ý nghĩa của từ bi yêu thương, điều thường bị hiểu sai lạc.  Lòng từ bi yêu thương chân thành không đặt cơ sở trên kế hoạch và dự tính của chính chúng ta, nhưng đúng hơn là trên quyền lợi của những người khác không kể là bạn thân hay kẻ thù, cũng như thế người ấy ao ước cho hòa bình và hạnh phúc, và nguyện ước vượt thoát khổ đau, và rồi thì trên căn bản ấy chúng ta phát triển sự quan tâm chân thành cho những vấn đề của họ.  Đây là lòng từ bi yêu thương chân thành.
Thông thường khi chúng ta quan tâm đến một người bạn thân, chúng ta gọi đây là từ bi yêu thương.  Đấy không là từ bi yêu thương; nó là sự ái luyến, hay vướng mắc (gắn bó).  Ngay cả trong hôn nhân, những cuộc hôn nhân lâu dài vì không phải do bởi gắn bó ái luyến đơn thuần, mặc dù nó là sự hiện diện một cách thông thường – nhưng bởi vì cũng có từ bi yêu thương.  Hôn nhân ngắn ngủi do bởi thiếu vắng từ bi yêu thương, chỉ có tình cảm ái luyến đặt cơ sở trên kế hoạch, dự tính và cả ảo tưởng (sự trông mong).  Khi chỉ có sự quan hệ ràng buộc giữa những người bạn thân là gắn bó ái luyến, rồi thì khi ngay cả chỉ có một vấn đề nhỏ có thể làm nguyên cớ cho những kế hoạch (ảo tưởng) của một người thay đổi.  Ngay khi kế hoach chúng ta thay đổi, sự gằn bó ái luyến liên kết biến mất – bởi vì sự ái luyến gắn bó ấy đã được đặt cơ sở đơn thuần trên kế hoạch ,dự tính và cả ảo tưởng (sự trông mong).
Có thể có một lòng từ bi yêu thương mà không vướng mắc (ái luyến) – và tương tự, có một sự sân giận mà không thù hận.  Vì vậy, chúng ta cần phải làm sáng tỏ minh bạch sự khác nhau  giữa từ bi yêu thương và ái luyến ràng buộc,  giữa sân giận và thù hận.  Sự sáng tỏ rõ ràng như vậy rất lợi ích trong đời sống hằng ngày và trong ảnh hưởng tác động của chúng ta với hòa bình thế giới.  Chúng tôi lưu tâm rằng đây là căn bản của những giá trị tâm linh cho hạnh phúc của toàn nhân loại,  không kể dù  đấy là một người tín ngưỡng hay không tín ngưỡng.

Dimensions of Spirituality
Tuệ Uyển chuyển ngữ

05 - 08 - 2008

Friday, May 28, 2010

Tâm Bình Thế Giới Bình 3

Tâm Bình Thế Giới Bình 3: Tự Do Nội Tại Là Tự Do Thật Sự


Tự do (hay giải thoát) khỏi sự cưỡng bách bởi sự suy nghĩ liên tục và không ngừng nghĩ là tự do thật sự. Tâm thức chúng ta suy nghĩ từ lúc chúng ta thức dậy buổi sáng cho đến khi chúng ta đi vào giấc ngủ buổi tối. Nó không cho chúng ta một thời khắc nào để nghĩ ngơi. Nó tạo nên những tư tưởng và cũng tiếp nhận những tư tưởng từ thế giới chung quanh chúng ta. Thói quen này rất mạnh mẽ và bám lấy một cách sâu sắc khiến không ai nghĩ đến việc chiến thắng nó.

Trong tình trạng này chúng ta không thể tự do. Chúng ta có thể sống trong một xứ sở tự do và chúng ta có thể có thu nhập tài chính một cách độc lập, tuy thế tâm thức tiếp tục sự xiềng xích chúng ta với một dòng chảy liên tục của tư tưởng và những tưởng tượng tinh thần, và rất nhiều thứ này là vô ích và phù phiếm.

Tâm thức là một đấng tạo hóa và cũng là kẻ tiếp nhận những tư tưởng, và nó cũng liên tục sản xuất những bộ phim tinh thần. Chúng ta hành động như những khán giả với đôi mắt dồn lên một màn hình, xem những hình ảnh chuyển động trên màn ảnh của tâm thức. Những hình ảnh chuyển động này là quá thật nên chúng ta không bao giờ hỏi về giá trị của chúng hay chúng ta có cần chúng hay không. Đời sống, thói quen, hành động và phản ứng của chúng ta bị ảnh hưởng hoàn toàn một cách mạnh mẽ bởi những gì xảy ra trong tâm thức chúng ta. Chỉ bằng việc bắt sự cuồng nhiệt của tâm thức phải im lặng mà chúng ta có thể thụ hưởng sự hòa bình thật sự và tự do chân thật.

Nếu chúng ta có thể xem thấy hành hoạt xãy ra sôi nổi không ngừng trong tâm thức của mọi người, chúng ta sẽ thấy một cảnh tượng vô cùng hấp dẫn. Chúng ta sẽ thấy mỗi một người đang sống trong một loại thế giới tinh thần tưởng tượng được tạo nên bởi tư tưởng của chúng ta. Chúng ta sẽ thấy những tư tưởng được tạo nên bởi những tâm thức khác nhau lơ lửng qua khoảng không và được người khác nhặt lấy, những kẻ nghĩ rằng những thứ đó là tư tưởng của chính họ. Những tư tưởng này đang chương trình hóa một cách liên tục tâm thức của người nghĩ về chúng, và làm cho con người bị ảnh hưởng đến cư xử, hành động và nói năng trong sự phù hợp với chúng. Thế thì đâu là tự do?

Chúng ta có thể sống trong một quốc gia tự do, tuy thế đời sống nội tại có thể không có tự do. Chúng ta thụ hưởng tự do thật sự khi chúng ta có thể chấp nhận hay từ chối những tư tưởng trong sự phù hợp với ý muốn của chúng ta, và có thể áp đặt sự im lặng trong tâm thức chúng ta, khi không có điều gì để nghĩ đến. Dĩ nhiên đây là quyền lực của tâm thức.

Chỉ khi mà chúng ta tự do khỏi sự cưỡng bách suy nghĩ liên tục thì chúng ta mới trở nên tự do (hay giải thoát). Chúng ta bật tắt máy xe của chúng ta khi chúng ta đến nơi chốn dự định, bởi vì không có sự cần thiết cho nó tiếp tục vận hành. Tại sao chúng ta không thể làm giống như thế đối với tâm thức của chúng ta? Tại sao phải để tâm thức tiếp tục suy nghĩ vô ích, hư ảo hay những tư tưởng tiêu cực, ở những thời điểm khi chúng ta không cần thiết dự tính, giải quyết những vấn nạn, học tập hay hành động? Khi không có điều gì đặc biệt mà chúng ta cần suy nghĩ, tại sao không thụ hưởng sự im lặng nội tại – sự tự do nội tại?

Hãy tưởng tượng tâm thức chúng ta tĩnh lặng, giống như một mặt hồ yên tĩnh không có sóng gợn lăn tăn, tự do khỏi sự cưỡng bách của sự suy tư không cố ý. Trong trạng thái tĩnh lặng và thanh thản chúng ta trở nên có ý thức hay thấy rõ tự ngã nội tại của chúng ta, là điều thường bị che dấu bởi những tư tưởng trôi chảy và những tưởng tượng trong tâm thức liên tục. Trong tình trạng này chúng ta tỉnh thức về tự thể tâm linh thể hiện nội tại, và hạnh phúc cùng an lạc bừng khởi từ bên trong tâm thức của chúng ta.

Làm thế nào chúng ta có thể đạt đến sự tự do hay giải thoát nội tại? Qua tập trung (thiền định) và phân tích (thiền quán), sự tĩnh lặng hiện tại, phát triển sự buông bỏ (xả ly) và khả năng để thanh lọc và quán sát những tư tưởng, mà không phải liên lụy và bị cuốn đi bởi chúng.

Hãy làm tâm thức chúng ta tĩnh lặng và chúng ta sẽ thụ hưởng tự do thật sự.

--

Inner Freedom is Real Freedom

Tác giả: Remez Sasson

Chuyển Ngữ : Tuệ Uyển - 30/04/2010

http://www.successconsciousness.com/index_000070.htm

Tâm Bình Thế Giới Bình 3

Tâm Bình Thế Giới Bình 3: Tự Do Nội Tại Là Tự Do Thật Sự

Đã đọc: 139Cỡ chữ: Decrease font Enlarge font
image

Tự do (hay giải thoát) khỏi sự cưỡng bách bởi sự suy nghĩ liên tục và không ngừng nghĩ là tự do thật sự. Tâm thức chúng ta suy nghĩ từ lúc chúng ta thức dậy buổi sáng cho đến khi chúng ta đi vào giấc ngủ buổi tối. Nó không cho chúng ta một thời khắc nào để nghĩ ngơi. Nó tạo nên những tư tưởng và cũng tiếp nhận những tư tưởng từ thế giới chung quanh chúng ta. Thói quen này rất mạnh mẽ và bám lấy một cách sâu sắc khiến không ai nghĩ đến việc chiến thắng nó.

Trong tình trạng này chúng ta không thể tự do. Chúng ta có thể sống trong một xứ sở tự do và chúng ta có thể có thu nhập tài chính một cách độc lập, tuy thế tâm thức tiếp tục sự xiềng xích chúng ta với một dòng chảy liên tục của tư tưởng và những tưởng tượng tinh thần, và rất nhiều thứ này là vô ích và phù phiếm.

Tâm thức là một đấng tạo hóa và cũng là kẻ tiếp nhận những tư tưởng, và nó cũng liên tục sản xuất những bộ phim tinh thần. Chúng ta hành động như những khán giả với đôi mắt dồn lên một màn hình, xem những hình ảnh chuyển động trên màn ảnh của tâm thức. Những hình ảnh chuyển động này là quá thật nên chúng ta không bao giờ hỏi về giá trị của chúng hay chúng ta có cần chúng hay không. Đời sống, thói quen, hành động và phản ứng của chúng ta bị ảnh hưởng hoàn toàn một cách mạnh mẽ bởi những gì xảy ra trong tâm thức chúng ta. Chỉ bằng việc bắt sự cuồng nhiệt của tâm thức phải im lặng mà chúng ta có thể thụ hưởng sự hòa bình thật sự và tự do chân thật.

Nếu chúng ta có thể xem thấy hành hoạt xãy ra sôi nổi không ngừng trong tâm thức của mọi người, chúng ta sẽ thấy một cảnh tượng vô cùng hấp dẫn. Chúng ta sẽ thấy mỗi một người đang sống trong một loại thế giới tinh thần tưởng tượng được tạo nên bởi tư tưởng của chúng ta. Chúng ta sẽ thấy những tư tưởng được tạo nên bởi những tâm thức khác nhau lơ lửng qua khoảng không và được người khác nhặt lấy, những kẻ nghĩ rằng những thứ đó là tư tưởng của chính họ. Những tư tưởng này đang chương trình hóa một cách liên tục tâm thức của người nghĩ về chúng, và làm cho con người bị ảnh hưởng đến cư xử, hành động và nói năng trong sự phù hợp với chúng. Thế thì đâu là tự do?

Chúng ta có thể sống trong một quốc gia tự do, tuy thế đời sống nội tại có thể không có tự do. Chúng ta thụ hưởng tự do thật sự khi chúng ta có thể chấp nhận hay từ chối những tư tưởng trong sự phù hợp với ý muốn của chúng ta, và có thể áp đặt sự im lặng trong tâm thức chúng ta, khi không có điều gì để nghĩ đến. Dĩ nhiên đây là quyền lực của tâm thức.

Chỉ khi mà chúng ta tự do khỏi sự cưỡng bách suy nghĩ liên tục thì chúng ta mới trở nên tự do (hay giải thoát). Chúng ta bật tắt máy xe của chúng ta khi chúng ta đến nơi chốn dự định, bởi vì không có sự cần thiết cho nó tiếp tục vận hành. Tại sao chúng ta không thể làm giống như thế đối với tâm thức của chúng ta? Tại sao phải để tâm thức tiếp tục suy nghĩ vô ích, hư ảo hay những tư tưởng tiêu cực, ở những thời điểm khi chúng ta không cần thiết dự tính, giải quyết những vấn nạn, học tập hay hành động? Khi không có điều gì đặc biệt mà chúng ta cần suy nghĩ, tại sao không thụ hưởng sự im lặng nội tại – sự tự do nội tại?

Hãy tưởng tượng tâm thức chúng ta tĩnh lặng, giống như một mặt hồ yên tĩnh không có sóng gợn lăn tăn, tự do khỏi sự cưỡng bách của sự suy tư không cố ý. Trong trạng thái tĩnh lặng và thanh thản chúng ta trở nên có ý thức hay thấy rõ tự ngã nội tại của chúng ta, là điều thường bị che dấu bởi những tư tưởng trôi chảy và những tưởng tượng trong tâm thức liên tục. Trong tình trạng này chúng ta tỉnh thức về tự thể tâm linh thể hiện nội tại, và hạnh phúc cùng an lạc bừng khởi từ bên trong tâm thức của chúng ta.

Làm thế nào chúng ta có thể đạt đến sự tự do hay giải thoát nội tại? Qua tập trung (thiền định) và phân tích (thiền quán), sự tĩnh lặng hiện tại, phát triển sự buông bỏ (xả ly) và khả năng để thanh lọc và quán sát những tư tưởng, mà không phải liên lụy và bị cuốn đi bởi chúng.

Hãy làm tâm thức chúng ta tĩnh lặng và chúng ta sẽ thụ hưởng tự do thật sự.

--

Inner Freedom is Real Freedom

Tác giả: Remez Sasson

Chuyển Ngữ : Tuệ Uyển - 30/04/2010

http://www.successconsciousness.com/index_000070.htm

Tâm Bình Thế Giới Bình 2

Tâm Bình Thế Giới Bình 2: Hãy Biến Niềm Hòa Bình Của Tâm Hồn Thành Một Thói Quen

Chúng ta thích điều gì, một tâm tư bồn chồn, náo động hay một tâm hồn hòa bình yên tĩnh? Chúng ta thích thú sự căng thẳng tinh thần không ngừng nghĩ hay chúng ta thích một tâm hồn an bình tĩnh lặng?

Sự hòa bình của tâm tư điều khiển một tình trạng sức khỏe cảm xúc và thân thể khá hơn , tăng cường năng lượng, năng lực tinh thần mạnh mẽ hơn, trau đồi trí nhớ và một năng lực tốt hơn để học hỏi và nghiên cứu. Nó cũng giúp quản lý hiệu quả hơn những giao tiếp hàng ngày của cuộc sống, cùng những hoàn cảnh và tình thế căng thẳng cũng như khó khăn.

Bạn có biết rằng một khả năng tập trung mạnh mẽ hơn sẽ đem đến một tâm tư an bình sâu đậm hơn, và một tâm hồn tĩnh lặng tăng cường khả năng để tập trung? Hai khả năng này là liên hệ hổ tương với nhau.

Chúng ta sống trong một thế giới nơi mà sợ hãi, căng thẳng và kích động bao vây. Quí vị có thể nghĩ rằng không thể làm điều gì với chúng, và chấp nhận tình cảnh này như thứ quái quỉ bất đắc dĩ, nhưng quí vị không phải làm thế. Quí vị có thể trãi nghiệm sự an bình nội tại ngay cả trong những điều kiện và hoàn cảnh căng thẳng, nhưng nó không đến một cách tự nhiên ngay lập tức. Nó được phát triển dần dần qua những sự rèn luyện đặc biệt.

Chỉ nghĩ nó quan trọng như thế nào cho chúng ta. Hãy cảm thấy bị thuyết phục về sự quan trọng của nó, và quyết định để làm điều gì đấy về nó.

Học hỏi và thực hành tập trung và thiền tập trên một căn bản thông thường, và sự hòa bình nội tại của chúng ta sẽ tăng trưởng. Lập lại những sự khẳng định về an bình, cuối cùng tâm tư chúng ta sẽ chấp nhận chúng. Hãy tưởng tượng những tình cảnh hòa bình, hình dung chính mình hành động một cách tĩnh lặng trong những hoàn cảnh, những điều thường làm chúng ta cảm thấy căng thẳng và hãi sợ.

Sự thực tập hằng ngày sẽ trầm lặng tâm tư chúng ta xuống. Sự tĩnh lặng này sẽ ảnh hưởng sự thể hiện nội tại của chúng ta, thân thể chúng ta, hoàn cảnh của chúng ta và những người chúng ta gặp gở. Nó sẽ chuyển hóa chúng ta thành ra một người sản sinh ra tình trạng hòa bình và tĩnh lặng.

Nếu chúng ta lo sợ rằng sự hòa bình của tâm tư mình có thể làm cho đời sống chúng ta mờ nhạt, u mê, không thích thú và buồn chán, thì chúng ta không phải lo lắng về điều ấy. Chúng ta có thể hưởng thụ một đời sống với một tâm hồn thanh bình. Thực tế, chúng ta sẽ thích thú thụ hưởng nó hơn, bởi vì chúng ta sẽ trãi nghiệm sự tĩnh lặng, hạnh phúc và sức mạnh nội tại. Chúng ta sẽ không cảm thấy bị đe dọa bởi bất cứ điều gì. Chúng ta sẽ niềm hoan hỉ nội tại liên tục.

Chúng ta có thể cần phải từ bỏ một số hành động làm khích động tâm tư chúng ta, nhưng những phần thưởng lớn hơn niềm vui mà những hành động này làm cho chúng ta. Khi chúng ta trãi nghiệm niềm hòa bình thật sự, chúng ta sẽ yêu mến và hưởng thụ điều ấy. Nó sẽ trở nên quý giá đến chúng ta, hơn nhiều hành vi khác mà chúng ta thích thú và thụ hưởng cho đến bây giờ.

Chúng ta sẽ có thể thưởng thức một bộ phim hành động hay câu truyện ly kỳ, nhưng vẫn bình lặng và thoãi mái. Chúng ta sẽ có thể thích thú với trận đấu bóng cà na, trong cùng lúc ấy tâm thức chúng ta vẫn yên bình và không bị kích động. Chúng ta sẽ có thể thích thú với thức ăn, thể dục vật lý, những sở thích riêng hay bất cứ điều gì khác, mà không bị căng thẳng và ngập ngừng.

Thể hiện việc làm nội tại, như thiền quán và tập trung, cuối cùng sẽ biến sự hòa bình của tâm tư thành một thói quen tự nhiên.

Hãy nghĩ về tất cả những thứ như giận dữ, oán hận, buồn rầu, căng thẳng thân thể và tâm lý, sợ hãi, xung đột cùng lãng phí thời gian và năng lượng đấy là kết quả từ sự thiếu vắng hòa bình nội tại, và chúng ta sẽ bắt đầu cảm kích sự quan trọng để đạt đến niềm hòa bình của tâm hồn.

Hãy đọc những đề tài về tâm bình thế giới bình, và thực tập những điều được hướng dẫn, và đời sống chúng ta sẽ nhanh chóng bắt đầu thay đổi tốt đẹp sớm hơn.

--

Turn Peace of Mind Into a Habit

http://www.successconsciousness.com/index_000068.htm

Tâm Bình Thế Giới Bình 1

Tâm Bình Thế Giới Bình 1: Lời Khuyên Báo Về Sự Hòa Bình Của Tâm Hồn


Hầu hết mọi người sẽ vui mừng để có một sự an bình nào đấy của tâm hồn trong đời sống của họ. Họ sẽ hân hoan để quên đi những rắc rối, những vấn đề, và những lo lắng của họ, và thụ hưởng một vài thời khắc của sự tỉnh lặng và tự do nội tại từ những ám ảnh của tư tưởng.

Sự hòa bình của tâm hồn là gì? Đấy là một trạng thái yên bình và tĩnh lặng nội tại, cùng với một cảm giác tự do, khi những sự suy nghĩ và lo lắng ngừng lại, và không có sự căng thẳng, đè nén, hay sợ hãi. Những thời khắc như thế rất hiếm hoi. Chúng có thể được trãi qua trong khi bận rộn với một loại nào đấy của một hành vi chú tâm hay thích thú, chẳng hạn như khi đang xem một bộ phim hay một chương trình truyền hình hấp dẫn, trong khi ở bên cạnh một người thương mến nào đấy, trong khi đọc một quyển sách hay trong khi nằm trên bãi cát của bờ biển.

Khi chúng ta đi nghĩ mát, chúng ta có trãi qua một loại hờ hững tinh thần nào đấy không? Vào lúc ấy tâm hồn chúng ta trở nên yên tĩnh, với những suy tư ít hơn và những lo lắng ít hơn. Ngay cả trong khi chúng ta đang trong một giấc ngủ sâu, không nhận thức về những sự suy nghĩ của chúng ta, chúng ta đang ở trong một trạng thái an bình nội tại.

Những hành vi như thế và tương tự như thế đưa tâm tư chúng ta ra khỏi những suy tư và lo lắng thường lệ, và cho một niềm an bình nào đấy của tâm hồn.

Câu hỏi là, làm thế nào để mang đến sự hòa bình của tâm hồn vào trong đời sống của chúng ta, và quan trọng hơn, là làm thế nào kinh nghiệm nó trong những thời gian rắc rối muộn phiền. Chúng ta cũng có thể hỏi có khả năng làm nó thành một thói quen, và cảm thụ nó luôn luôn trong tất cả mọi hoàn cảnh. Đầu tiên, chúng ta cần học hỏi để đem đến nhiều thời khắc an bình nội tại hơn trong đời sống hằng ngày của chúng ta. Sau này, chúng ta cũng có thể kinh nghiệm những thời khắc này trong những lúc phiền muộn hay khó khăn, khi chúng ta thật cần sự yên bỉnh và tĩnh lặng của tâm hồn.

Chúng ta có thể biến sự hòa bình của tâm hồn thành một thói quen tự nhiên, nhưng để làm thế, sự tập luyện đặc biệt được đòi hỏi, qua sự thực tập tập trung, thiền quán, và những phương tiện khác.

Đây là một vài việc có thể giúp chúng ta:

- Giảm thiểu thời lượng đọc báo hay xem tin tức trên truyền hình.

- Tránh xa những cuộc đối thoại tiêu cực và những người tiêu cực.

- Đừng ôm ấp hận thù. Hãy học quên lãng và tha thứ. Nuôi dưỡng những cảm giác bệnh hoạn và bất bình tổn thương chúng ta và làm mất ngủ.

- Đừng ganh tị với người khác. Ganh tị có nghĩa là chúng ta có sự tự trọng thấp và tự xem mình thấp hơn người khác. Điều này một lần nữa, làm cho thiếu vắng sự an bình nội tại.

- Hãy chấp nhận những gì không thể thay đổi. Điều này tiết kiệm rất nhiều thời gian, năng lượng và lo lắng.

- Mỗi ngày chúng ta đối diện với vô số sự phiền phức, sự cáu kỉnh, và những tình trạng ngoài sự kiểm soát của chúng ta. Nếu chúng ta có thể thay đổi chúng, điều ấy thật tốt, nhưng điều này không phải luôn luôn có thể thực hiện. Chúng ta phải học gói gém những thứ như vậy và chấp nhận chúng một cách thân ái.

- Hãy học kiên nhẫn hơn và tha thứ bao dung hơn với con người và những sự kiện.

- Đừng ôm lấy mọi thứ một cách quá cá nhân. Một số cảm xúc và vô tư tinh thần là đáng mong ước. Hãy cố gắng nhìn cuộc đời chúng ta và những người khác hơi vô tư hơn và ít liên lụy hơn. Vô tư không phải là dửng dưng, thiếu sự thích thú hay lạnh lùng. Nó là khả năng để suy nghĩ và phán đoán công bằng và hợp lý. Đừng lo lắng nếu chúng ta thất bại lần này rồi lần nữa trong việc biểu hiện vô tư. Hãy giữ sự cố gắng.

- Hãy để chuyện dĩ vãng trôi về quên lãng, đừng nhắc đến chuyện cũ. Hãy quên đi quá khứ và tập trung vào giây phút hiện tại. Không cần phải khơi dậy ký ức không vui lòng và tự đắm mình trong chúng.

- Thực hành một số bài thực hành tập trung. Điều này sẽ giúp chúng ta loại bỏ những suy tư không vui và lo lắng phiền muộn đã đánh cắp tâm tư hòa bình của chúng ta.

- Hãy học thực hành thiền quán. Ngay cả một vài phút trong một ngày sẽ làm nên một sự thay đổi trong đời sống của chúng ta.

Hòa bình nội tại cuối cùng sẽ đưa đến hòa bình ngoại tại. Bằng sự tạo nên an bình nội taị, chúng ta đưa nó vào trong thế giới ngoại tại, và nó cũng ảnh hưởng đến những người khác.