Tuesday, November 4, 2014

TRÁI TIM RỘNG MỞ: GIỚI THIỆU

TRÁI TIM RỘNG MỞ

GIỚI THIỆU




Anh chị em, chào buổi sáng.

Tôi tin rằng mỗi con người có một lòng khao khát bẩm sinh cho hạnh phúc và không muốn khổ đau.  Tôi cũng tin tưởng rằng mục tiêu chính yếu của đời sống là để trải nghiệm hạnh phúc này.  Tôi tin rằng mỗi chúng ta có cùng khả năng để phát triển hòa bình nội tại và do thế đạt được hạnh phúc và sung sướng.  Cho dù chúng ta giàu hay nghèo, có học vấn hay không, đen hay trắng, từ phương Đông hay Tây, khả năng của chúng ta là đồng đẳng với nhau.  Tất cả chúng ta là giống nhau, tâm lý và cảm xúc.  Mặc dù một số người trong chúng ta có những cái mũi to hơn và màu da có thể hơi khác nhau, nhưng một cách vật lý chúng ta căn bản là giống nhau. Những khác biệt là ít ỏi.  Tinh thần và cảm xúc tương đồng là những gì quan trọng.

Chúng ta chia sẻ những cảm xúc rối rắm cũng như cảm xúc tích cực đem đến sưc mạnh và tĩnh lặng nội tại cho chúng ta.  Tôi nghĩ thật quan trọng để chúng ta tỉnh thức về khả năng của chúng ta và hãy để điều này truyền cảm hứng cho sự tự tin của chúng ta.  Đôi khi chúng ta nhìn vào phía tiêu cực của mọi việc và rồi thì cảm thấy thất vọng.  Điều này, tôi nghĩ là một quan điểm sai lầm.

Tôi không có pháp thuật gì để cống hiến cho quý vị.  Nếu ai đấy có năng lực mầu nhiệm, thế thì tôi cũng tìm cầu con người này để giúp đở.  Thẳng thắn mà nói, tôi nghi ngờ những ai tuyên bố có năng lực kỳ vĩ.  Tuy nhiên, qua việc rèn luyện tâm, với nổ lực không ngừng, chúng ta có thể thay đổi những nhận thức tinh thần hay thái độ tinh thần.  Điều này có thể làm một sự khác biệt thật sự trong đời sống chúng ta.

Nếu chúng ta có một thái độ tinh thần thật sự, thế thì ngay cả khi chúng ta bị bao vây bở sự thù địch, chúng ta sẽ không thiếu sự hòa bình nội tại.  Trái lại, nếu thái độ tinh thần là tiêu cực hơn, bị ảnh hường bởi sợ hãi, nghi ngờ, tuyệt vọng, hay tự ghét bỏ thế thì ngay cả khi chung quanh là những người bạn thân, trong một không khí dễ thương và những thứ thoải mái vây quanh, chúng ta cũng sẽ không vui vẻ.  Do vậy, thái độ tinh thần là rất quan trọng: nó làm nên một sự khác biệt đối với thể trạng hạnh phúc của chúng ta.

Tôi nghĩ thật sai lầm nếu cho rằng những rắc rối của chúng ta có thể được giải quyết bằng tiền bạc hay lợi lạc vật chất.  Thật không thực tế nếu tin rằng điều tích cực nào đó có thể xảy đến đờn thuần từ một điều gì đó ngoại tại.  Dĩ nhiên, hoàn cảnh vật chất của chúng ta là quan trọng và lợi ích cho chúng ta.  Tuy nhiên, những thái độ tinh thần nội tại cũng quan trọng tương đồng - nếu không nói là quan trọng hơn.  Chúng ta phải học để từ bỏ việc theo đuổi một đời sống xa hoa, như nó là một chướng ngại cho việc thực tập của chúng ta.

Đôi khi đối với tôi dường như đấy là một phong trào khi mọi người quá nhấn mạnh trong việc phát triển vật chất và quên lãng những giá trị nội tại.  Do thế, chúng ta phải tăng cường một sự quân bình giữa mối bận tâm vật chất và sự lớn mạnh tinh thần nội tại.  Tôi  nghĩ thật tự nhiên cho chúng ta hành động như những động vật xã hội.  Các phẩm chất tốt đẹp của chúng ta là những thứ tôi gọi là các giá trị nhân bản chân thật.  Chúng ta nên làm việc để gia tăng và giữ vững những phẩm chất như chia sẻ với những người khác và săn sóc với nhau.  Chúng ta cũng phải tôn trọng những quyền của người khác.  Nhờ thế, chúng ta nhận ra rằng hạnh phúc và lợi lạc tương lai của chính chúng ta là tùy thuộc trên nhiều thành viên khác của xã hội.

Trong trường hợp của tôi, vào lúc mười sáu tuổi tôi mất tự do, và lúc hai mươi bốn tuổi tôi mất quê hương.  Tôi đã là một người tị nạn trong bốn mươi năm qua, với những trách nhiệm nặng nề.  Khi nhìn lại, đời sống của tôi thật không dễ dàng.  Tuy nhiên, trải qua những năm tháng ấy, tôi đã học hỏi về bi mẫn, và việc chăm sóc cho người khác.  Thái độ tinh thần này đã mang đến sức mạnh nội tại cho tôi.  Một trong những lời cầu nguyện ưa thích của tôi là:

Cho đến khi nào không gian còn tồn tại,
Cho đến khi nào chúng sanh còn hiện hữu,
Tôi vẫn sẽ hiện diện,
Nhằm để giúp đở, nhằm để phục vụ,
Nhằm để thực hiện sự cống hiến của chính tôi.

Loại suy nghĩ như thế mang đến sức mạnh nội tại và sự quả quyết.  Nó đem đến lý tưởng cho sự sống của tôi.  Bất chấp vấn đề khó khăn và phức tạp có thể thế  nào nếu chúng ta có loại thái độ tinh thần này, chúng ta có thể có sự hòa bình nội tại.

Một lần nữa, tôi phải nhấn mạnh rằng chúng ta là giống nhau!  Một số người trong quý vị có thể có ấn tượng rằng Đạt Lai Lạt Ma là khác biệt thế nào đấy.  Điều ấy hoàn toàn sai.  Tôi là một con người như tất cả quý vị.  Chúng ta có cùng khả năng.

Sự lớn mạnh tâm linh không cần phải căn cứ trên niềm tin tôn giáo.  Chúng ta hãy nói về đạo đức thế tục.

Tôi tin rằng những phương pháp mà nhờ đấy chúng ta gia tăng lòng vị tha của chúng ta, cảm nhận chăm sóc người khác và việc phát triển thái độ trong ấy sự quan tâm cho chính cá nhân chúng ta là ít quan trọng hơn sự quan tâm cho người khác, là thông thường đối với tất cả những truyền thống tôn giáo quan trọng.  Mặc dù chúng ta có thể thấy những quan điểm triết lý và nghi lễ khác biệt, nhưng thông điệp căn bản của tất cả mọi tôn giáo là rất giống nhau.  Tất cả đều chủ trương từ ái, bi mẫn, và tha thứ.  Và thậm chí những ai không tin tưởng trong tôn giáo cũng có thể cảm kích những đạo đức căn bản của con người.

Vì chính sự tồn tại và cát tường của chúng ta là một kết quả của sự hợp tác và đóng góp của vô số người khác, nên chúng ta phải phát triển một thái độ thích đáng về cung cách chúng ta liên hệ với tất cả.  Chúng ta thường có khuỵnh hướng quên  lãng sự thật căn bản này.  Ngày nay, trong nền kinh tế địa cầu hiện đại, các biên giới quốc gia là không thích đáng.  Không chỉ các xứ sở lệ thuộc vào nhau, mà các lục địa cũng thế.  Chúng ta lệ thuộc tương liên một cách sâu đậm.

Khi chúng ta nhìn một cách sâu sát nhiều rắc rối đối diện với loài người ngày nay, chúng ta có thể thấy rằng chúng đã được chúng ta tạo ra.  Tôi không nói về những thảm họa thiên nhiên.  Tuy nhiên, những sự xung đột, tắm máu, rắc rối sinh khởi từ chủ nghĩa quốc gia và biên giới quốc gia, tất cả đều là do con người làm ra.

Nếu chúng ta nhìn xuống thế giới từ không gian, chúng ta sẽ không thấy sự phân cách của các biên giới quốc gia.  Chúng ta chỉ đơn giản thấy một hành tinh nhỏ bé, chỉ một mà thôi.  Một khi chúng ta vẽ một đường trên cát, chúng ta phát sinh cảm giác "chúng ta" và "người ta".  Khi cảm giác này lớn mạnh, nó trở nên khó khăn hơn để thấy bối cảnh của thực tại.  Trong nhiều quốc gia Phi châu, và mới gần đây một số quốc gia Đông Âu, chẳng hạn như Liên Bang Nam Tư trước đây, có một chủ nghĩa quốc gia hẹp hòi cực độ.

Trong cảm nhận của khái niệm "chúng ta" và "người ta" hầu như không thích đáng nữa, khi sự quan tâm của láng giềng cũng là của chính chúng ta.  Chăm sóc cho sự quan tâm của láng giếng một cách căn bản là chăm sóc cho chính tương lai của chúng ta.  Thực tế ngày nay đơn giản.   Trong việc làm tổn hại kẻ thù chúng ta, chúng ta bị tổn hại.

Tôi thấy rằng do bởi sự tiến bộ của kỷ thuật hiện đại và kinh tế địa cầu của chúng ta, và như một kết quả của sự gia tăng dân số quá lớn, thế giới chúng ta đã thay đổi một cách lớn lao: nó đã trở nên nhỏ bé hơn nhiều.  Tuy nhiên, các nhận thức của chúng ta đã không tiến hóa cùng tốc độ; chúng ta tiếp tục dính mắc ràng buộc trong sự phân ranh giới quốc gia và những cảm giác về "chúng ta" và "người ta".

Chiến tranh dường như là một bộ phận của lịch sử loài người.  Khi chúng ta nhìn vào hoàn cảnh hành tinh của chúng ta trong quá khứ, những quốc gia, các tôn giáo, và ngay cả những làng mạc đã là một nền kinh tế độc lập với nhau.  Dưới những hoàn cành như vậy, sự tàn phá kẻ thù có thể là một chiến thắng cho chúng ta.  Có một sự liên hệ với bạo động và chiến tranh.  Tuy nhiên, ngày nay , chúng ta qua liên hệ hổ tương, nên khái niệm chiến tranh đã trở nên lỗi thời.  Khi chúng ta đối diện với những rắc rối hay bất đồng ngày nay, chúng ta phải đi đến những giải pháp qua đối thoại.  Đối thoại là phương pháp thích hợp duy nhất.  Chiến thắng của một phía là không thích đáng nữa.  Chúng ta phải làm việc để giải quyết những xung đột trong một tinh thần hòa giải và luôn luôn giữ trong tâm những quan tâm của kẻ khác.  Chúng ta không thể hủy hoại láng giếng của chúng ta!  Chúng ta không thể tảng lờ những quan tâm của họ!  Làm như thế căn bản sẽ làm chúng ta đau khổ.  Vì thế, tôi nghĩ rằng khái niệm bạo động bây giờ là không thích hợp.  Bất bạo động là phương pháp thích đáng.

Bất bạo động không có nghĩa là vẫn dửng dưng đối với một rắc rối.  Trái lại, thật quan trọng để tham dự một cách trọn vẹn.  Tuy nhiên, chúng ta phải xử sự trong một cung cách không chỉ lợi lạc cho riêng chúng ta mà thôi.  Chúng ta không được làm hại đến những quan tâm của kẻ khác.  Bất bạo động do thế không chỉ là sự vắng mặt của bạo động.  Nó liên hệ trong ý nghĩa của từ bi và chăm sóc.  Nó hầu như là sự biểu hiện của từ bi.  Tôi tin tưởng một cách mạnh mẽ rằng chúng ta hầu như phải thúc đẩy một khái niệm bất bạo động như thế trong mức độ của gia đình cũng như trong những trình độ của của quốc gia và quốc tế.  Mỗi cá nhân có khả năng để đóng góp cho một sự bất bạo động từ bi như vậy.

Chúng ta phải hành động điều này như thế nào?  Chúng ta có thể bắt đầu với chính mình.  Chúng ta phải cố gắng để phát triển một nhận thức rộng rãi hơn, nhìn vào hoàn cảnh từ tất cả mọi khía cạnh.  Thông thường khi chúng ta đối diện với rắc rối, chúng ta nhìn vào chúng từ quan điểm của riêng mình.  Thậm chí đôi khi cố ý quên lãng những khía cạnh khác của tình thế.  Việc này đưa đến những hậu quả tiêu cực.  Tuy nhiên, thật quan trọng để chúng ta có một quan điểm rộng rãi hơn.

Chúng ta phải đi đến nhận ra rằng cũng là một bộ phận của xã hội chúng ta.  Chúng ta có thể nghĩ về xã hội như một thân thể, với tay, chân như những bộ phận của nó.  Dĩ nhiên, tay khác với chân; tuy nhiên, nếu điều gì đấy xảy ra với bàn chân, bàn tay có thể nên với xuống để giúp đở.  Tương tự thế, khi điều gì đấy sai sót trong xã hội, chúng ta phải hổ trợ.  Tại sao?  Bởi vì nó là một bộ phận của xã hội, bộ phận của chúng ta.

Chúng ta cũng phải chăm sóc đến môi trường.  Đây là ngôi nhà của chúng ta, ngôi nhà duy nhất!  Chúng ta đúng là có nghe đến việc những nhà khoa học nói về khả năng đổ bộ trên Sao Hỏa hay mặt trăng.  Nếu chúng ta có thể thực hiện được việc ấy trong một cách khả thi, thoải mái, thì tốt quá; nhưng thế nào đấy tôi nghĩ việc ấy có thể là khó khăn.  Chúng ta sẽ cần đến nhiều thiết bị, đơn giản chỉ để thở khi ở đấy.  Tôi nghĩ hành tinh xanh của chúng ta là rất xinh đẹp và thân yêu đối với chúng ta.  Nếu chúng ta hủy diệt nó hay một tổn hại kinh khủng nào xảy ra do bởi cẩu thả, chúng ta sẽ đi đến chốn nào?  Do vậy, chăm sóc môi trường là một phần trong sự quan tâm của chính chúng ta.

Phát triển một quan điểm rộng rãi hơn về hoàn cảnh của chúng ta và mở rộng sự tỉnh thức của có thể mang đến một sự thay đổi trong nhà chúng ta.  Đôi khi, qua một vấn đề rất nhỏ, một cuộc chiến giữa vợ và chồng, hay giữa cha mẹ và con cái.  Nếu chúng ta nhìn chỉ một khía cạnh của hoàn cảnh tập trung chỉ trên một rắc rối trước mắt, thế thì, vâng, thật đáng để chiến đấu và tranh cải.  Nó ngay cả đáng giá để ly dỵ!  Tuy nhiên, nhìn vào hoàn cảnh với khả năng nhìn thấy tất cả dữ cảnh có liên quan, chúng ta thấy rằng dù có một rắc rối, cũng có một sự quan tâm chung.  Chúng ta có thể đi đến nghĩ rằng, "Đây là một vấn đề nhỏ mà chúng ta phải giải quyết bằng đối thoại, không bằng sự lượng định quyết liệt".  Do thế, chúng ta có thể phát triển một không khí bất bạo động trong gia đình chúng ta cũng như trong cộng đồng chúng ta.

Một rắc rối khác chúng ta đối diện ngày nay là khoảng cách giữa giàu và nghèo.  Trong đất nước Hoa Kỳ vĩ đại này, tổ tiên quý vị đã thiết lập những khái niệm về dân chủ, tự do, khai phóng, bỉnh đẳng, và cơ hội bình đẳng cho mọi công dân.  Những điều này được cung ứng bởi Hiến Pháp kỳ diệu của quý vị.  Tuy nhiên, con số những nhà tỉ phú trong xứ sở này đang gia tăng trong khi những người nghèo vẫn tiếp tục nghèo, trong một số trường hợp thậm chí lại trở nên nghèo hơn.  Điều này thật bất hạnh.  Trên trình độ toàn cầu cũng thế, chúng ta thấy có những quốc gia giàu và nghèo.  Đây cũng là một bất hạnh.  Điều ấy không chỉ là sai sót một cách đạo đức, nhưng thực tế cũng là nguồn gốc của bất ổn và rắc rối cuối cùng sẽ tìm cách đến cửa nhà chúng ta.

Ngay từ lúc thơ ấu, tôi đã thường nghe về New York, tôi cảm thấy rằng nó  phải giống như thiên đàng, một thành phố xinh đẹp.  Năm 1979, khi tôi lần đầu đến New York, về đêm rơi vào một giấc ngủ yên bình dễ thương, nhưng tôi đã bị đánh thức bởi âm thanh này: Doooooo! Dooooooo! Doooooooo! Tiếng còi vang lên.  Tôi nhận ra rằng đã có điều gì đấy bất thường ở đây hay kia, hỏa hoạn và những rắc rối khác.

Cũng thế, một trong những người anh của tôi, người không còn sống nữa, đã nói với tôi những kinh nghiệm sống ở Hoa Kỳ của ông.  Ông có một cuộc sống khiêm tốn và nói với tôi những tình trạng rắc rối, những sự sợ hãi, sự giết chóc, trộm cắp, hiếp dâm mà con người phải chịu đựng.  Những điều này, tôi nghĩ, là kết quả của nền kinh tế bất bình đẳng trong xã hội.  Đấy chỉ là tự nhiên mà những khó khăn sinh khởi nếu chúng ta phải chiến đấu ngày qua ngày nhằm để sống còn trong khi những con khác, đồng đẳng với chúng ta, sống dễ dàng trong một đời sống xa hoa.  Đây là một tình cảnh không lành mạnh; như một kết quả, ngay cả giàu sang - những tỉ phú và triệu phú - vẫn liên tục băn khoăn.  Tôi, do thế, nghĩ rằng khoảng cách khổng lồ này giữa giàu và nghèo là thật bất hạnh.

Vào một lúc nào đó trước đây, một gia đình giàu có ở Bombay đến thăm tôi.  Bà nội có một thiên hướng tâm linh mạnh mẽ và thỉnh cầu một loại gia hộ nào đó từ tôi.  Tôi đã nói với bà, "Tôi không thể phù hộ cụ, tôi không có khả năng đó".  Và rồi tôi nói với bà, "Cụ ở một gia đình giàu có, và điều này là rất may mắn.  Đấy là kết quả từ những hành động đạo đức trong quá khứ.  Người giàu sang là những thành phần quan trọng của xã hôi.  Cụ sử dụng những phương pháp tư bản chủ nghĩa nhằm để tích lũy lợi nhuận ngày càng nhiều hơn thì bây giờ cụ phải sử dụng những phương pháp xã hội chủ nghĩa để giúp cung cấp người nghèo những sự giáo dục và bảo vệ sức khỏe."  Chúng ta phải sử dụng những phương pháp năng động của chủ nghĩa tư bản cho việc làm ra tiền và rồi đóng góp nó trong một cách lợi ích hơn, đầy đủ ý nghĩa hơn cho người khác.  Từ một quan điểm đạo đức cũng như thực tế, điều này là một cách tốt đẹp hơn nhiều trong việc đem đến sự thay đổi trong xã hội.

Ở Ấn Độ tồn tại hệ thống đẳng cấp; những thành viên của đẳng cấp thấp nhất đôi khi được liên hệ như những kẻ không thể đụng đến.  Trong những  năm 1950, cố bác sĩ Bhimrao Ambedkar, một thành viên của đẳng cấp này và là một luật sư nổi tiếng, là vị bộ trưởng bộ tư pháp đầu tiên và tác giả của hiến pháp Ấn Độ, trở thành Phật tử.  Hàng trăm nghìn người noi gương ông.  Mặc dù bây giờ họ tự nhận là những Phật tử, họ tiếp tục sống trong bần cùng.  Về phương diện kinh tế, họ cực kỳ nghèo khó.  Tôi thường nói với  họ, "Quý vị phải tự nổ lực; quý vị phải thực hiện sự khởi đầu, với sự tự tin, để mang đến những thay đổi.  Quý vị không thể đơn giản đổ thừa những thành viên của đẳng cấp cao hơn cho hoàn cảnh của quý vị."

Vậy thì, trong quý vị, những người nghèo, những người đến từ những hoàn cảnh khó khăn, tôi mạnh mẽ khuyến khích quý vị hãy làm việc cần mẫn, với sự tự tin, để làm những cơ hội của quý vị trở nên hữu dụng.  Những người giàu nên quan tâm hơn đối với những người nghèo, và người nghèo nên làm mọi nổ lực với sự tự tin.

Vài năm trước đây, tôi đã thăm một gia đình nghèo người da đen ở Soweto, Nam Phi.  Tôi mong muốn nói chuyện với họ một cách bình thường và hỏi han về hoàn cảnh của họ, cách họ sinh sống, những thứ như thế.  Tôi bắt đầu nói với một người đàn ông mà họ giới thiệu là một giáo viên.  Khi chúng tôi nói chuyện, chúng tôi đồng ý với nhau rằng sự phân biệt chủng tộc là rất tệ hại.  Tôi nói rằng bây giờ người da đen có những quyền bình đẳng ở Nam Phi, ông có những cơ hội mới mà ông phải làm cho nó hữu ích bằng việc đưa nổ lực vào qua học vấn và làm việc cần mẫn.  Ông phải phát triển sự bình đẳng đúng đắn thật sự.  Vị giáo viên trả lời một cách yên lặng với một nổi buồn mênh mang rằng ông tin rằng não bộ người Phi là thấp kém.  Ông nói, "Chúng tôi không thể sánh ngang với người da trắng". 

Tôi thật bị sốc và rất buồn.  Nếu loại tinh thần ấy tồn tại, thế thì không có cách nào để chuyển hóa xã hội.  Không thể!  Và vì thế tôi tranh luận với ông.  Tôi nói, "Kinh nghiệm của chính tôi và của đồng bào tôi đã không quá khác biệt so với ông.  Nếu những người Tây Tạng chúng tôi có cơ hội, chúng tôi có thể phát triển chính cộng đồng nhân loại thành công.  Chúng tôi đã là những người tị nạn ở Ấn Độ trong bốn mươi năm qua và đã trở thành một cộng đồng tị nạn thành công nhất ở đấy."  Tôi nói với ông ta, "Chúng ta là bình đẳng!  Chúng ta có cùng khả năng!  Tất cả chúng ta là những con người!  Sự khác biệt trên màu da là thứ yếu.  Do bởi sự phân biệt chủng tộc quá khứ, ông không có cơ hội; về mặt khác, ông có cùng khả năng."

Cuối cùng, với dòng lệ trên mắt, trong một giọng thì thầm ông đáp, "Bây giờ, tôi cảm thấy rằng chúng ta là giống nhau.  Chúng ta là những con người giống nhau, chúng ta có cùng khả năng."

Tôi cảm thấy thật thư thái từ nổi khó chịu buồn thảm của tôi.  Tôi cảm thấy rằng tôi đã thực hiện một cống hiến nho nhỏ trong việc chuyển hóa tâm tư một con người và tôi đã giúp người ấy phát triển sự tự tin, với căn bản của một tương lai tươi sáng.

Tự tin là rất quan trọng.  Chúng ta đạt đến điều ấy như thế  nào?  Đầu tiên chúng ta phải phát sinh trong tâm chúng ta rằng chúng ta đồng đẳng với tất cả mọi người và chúng ta có cùng năng lực.  Nếu chúng ta tiếp tục bi quan, nghĩ rằng chúng ta không thể thành công, thế thì chúng ta không thể tiến bộ.  Tư tưởng rằng chúng ta không thể ganh đua với người khác là bước đầu tiên của thất bại.

Vì vậy, thi đua thực hiện một cách đúng đắn, chân thật, không làm tổn hại người khác, sử dụng những quyền chính đáng của chúng ta, là cung cách đúng đắn đối với tiến trình.  Xứ sở vĩ đại này cung ứng cho tất cả mọi người tất cả mọi cơ hội cần thiết.

Mặc dù thật quan trọng để chúng ta dấn thân trong cuộc sống với lòng tự tin, nhưng chúng ta cũng phải phân biệt giữa những phẩm chất tiêu cực của sự lừa dối hay kiêu căng và những lòng tự hào hay tự tin.  Đây cũng là một bộ phận của việc rèn luyện tâm thức.  Trong sự thực tập của chính tôi, khi tôi có một cảm giác kiêu hảnh, "Ô, tôi thế nào đấy là đặc biệt." Tôi tự nói với mình, "Thật sự, tôi là một con người và một thầy tu Phật Giáo. Do thế, tôi có cơ hội thuận lợi để thực tập con đường tâm linh đưa đến Quả Phật."  Rồi thì tôi tự so sánh mình với một con côn trùng bé nhỏ trước mặt tôi và nghĩ, "Đấy là một con côn trùng rất yếu đuối, không có năng lực để nghĩ về những vấn đề triết lý.  Nó không có khả năng để phát triển lòng vị tha.  Thay vì thế tôi có cơ hội, tôi lại xử sự một cách ngu khờ."  Nếu tôi tự phán xét từ quan điểm này, con côn trùng chắc chắn trung thực và chân thành hơn tôi.

Đôi khi tôi gặp người nào đó và tôi cảm thấy rằng tôi hơi khá hơn người này, tôi tìm kiếm một phẩm chất nào đó của người ấy.  Người ấy có thể có mái tóc dễ thương.  Rồi thì tôi nghĩ, "tôi bây giờ đã hói đầu, nên từ quan điểm này, người ấy là hơn tôi!"  Chúng ta luôn luôn có thể tìm ra một phẩm chất nào đó trong một người nào đó mà nhờ họ chúng ta được soi sáng một điểm nào đấy.  Thói quen tâm linh này hổ trợ trong việc chống lại tính tự hào và kiêu hảnh của chúng ta.

Đôi  khi chúng ta cảm thấy tuyệt vọng; chúng ta trở nên mất tinh thần, nghĩ rằng chúng ta không thể làm việc gì đó.  Trong những hoàn cảnh như vậy, chúng ta phải gợi lại cơ hội và khả năng, chúng ta phải thành công.

Bằng việc nhận ra rằng tâm thức là rèn luyện được, chúng ta có thể đem đến những thay đổi đối với những thái độ bằng việc sử dụng những tiến tình tư tưởng.  Nếu chúng ta đang xử sự một cách kiêu căng, chúng ta có thể sử dụng tiến trình tư tưởng mà tôi vừa diễn tả.  Nếu chúng ta bị tràn ngập bởi một cảm giác tuyệt vọng hay chán chường, chúng ta phải nắm lấy mọi cơ hội để cải thiện hoàn cảnh.  Việc này rất lợi ích.

Cảm xúc con người là rất mạnh mẽ và đôi khi tràn ngập chúng ta.  Điều này có thể đưa đến thảm  họa.  Một sự thực hành quan trọng khác trong việc rèn luyện tâm thức chúng ta liên hệ đến việc tự cách biệt mình với những cảm xúc mạnh mẽ trước khi nó sinh khởi trong chúng ta.  Thí dụ, khi chúng ta cảm thấy giận dữ hay thù hận, chúng ta có thể nghĩ, "Vâng, bây giờ giận dữ đang đem đến cho tôi nhiều năng lượng hơn, quyết đoán hơn, những phản ứng nhanh chóng hơn."  Tuy nhiên, khi chúng ta nhìn một cách sâu sát hơn, chúng ta có thể thấy rằng năng lượng được đem đến bởi những cảm xúc tiêu cực một cách căn bản là mù quáng.  Chúng ta thấy rằng thay vì mang đến một tiến trình chín chắn, chúng có nhiều hậu quả đáng tiếc.  Tôi nghi ngờ năng lượng mang đến bởi cảm xúc tiêu cực có thật sự hữu dụng hay không.  Thay vì thế, chúng ta nên phân tích hoàn cảnh một cách thật cẩn thận, và rồi thì, với một quyết định trong sáng và khách quan mà biện pháp đối phó mới được đánh thức. 

Niềm tin mãnh liệt và thành thật "tôi phải làm việc gì đấy" có thể cho chúng ta một cảm giác mạnh mẽ về mục tiêu.  Điều này, tôi tin, là căn bản của năng lực lành mạnh, hữu ích và phong phú hơn. 

Nếu ai đấy đối xử với chúng ta một cách bất công, trước nhất chúng ta phải phân tích hoàn cảnh.  Nếu chúng ta cảm thấy chúng ta có thể chịu đựng sự bất công ấy, nếu những hậu quả của việc như vậy là không quá lớn, thế thì tốt nhất là chấp nhận nó.  Tuy nhiên, nếu trong sự phán xét của chúng ta, được đạt đến với sự trong sáng và tỉnh thức, chúng ta đi đến kết luận rằng việc chấp nhận sẽ mang đến những hậu quả tiêu cực nghiêm trọng, thế thì chúng ta phải thực hiện những biện pháp đối phó thích hợp nào đó.  Sự kết luận này phải được đạt đến trong căn bản của sự tỉnh thức trong sáng về hoàn cảnh và không phải là kết quả của sân hận.  Tôi nghĩ rằng giận dữ và thù hận thật sự làm tổn hại đối với chúng ta hơn là người chịu trách nhiệm làm ra rắc rối cho chúng ta.

Hãy tưởng tượng rằng láng giềng của chúng ta ghét bỏ chúng ta và luôn luôn tạo ra những rắc rối cho chúng ta.  Nếu chúng ta đánh mất sự bình tĩnh và gia tăng thù hận đối với người ấy, sự tiêu hóa của chúng ta bị tổn hại, giấc ngủ yên bình của chúng ta biến mất, và chúng ta phải bắt đầu sử dụng thuốc an thần và thuốc ngủ.  Chúng ta rồi thì phải gia tăng lượng thuốc, là điều sẽ gây hại cho thân thể.  Tình cảm chúng ta bị ảnh hưởng; như một kết quả, những bạn cũ của chúng ta do dự thăm viếng chúng ta.  Chúng ta dần dần có nhiều tóc trắng và nếp nhăn hơn, và cuối cùng chúng ta có thể có những vấn đề sức khỏe nghiêm trọng.  Rồi thì láng giềng của chúng ta sẽ vui vẻ thật sự.  Không cần phải chịu bất cứ tổn thương thân thể nào, người ấy đã hoàn thành mong ước!

Nếu, mặc cho sự bất công, chúng ta vẫn điềm tĩnh, vui vẻ, và bình lặng, sức khỏe chúng ta vẫn mạnh mẽ, chúng ta tiếp tục sung sướng, và nhiều bạn đến thăm viếng chúng ta hơn.  Đời sống của chúng ta thành công hơn.  Điều này thật sự mang lo lắng trong tâm thức láng giềng.  Tôi nghĩ đây là phương cách thông tuệ  gây ra tổn hại cho láng giềng chúng ta.  Tôi không muốn nói đây là chuyện đùa.  Tôi có những lượng kinh nghiệm nào đấy ở đây.  Mặc cho một số hoàn cảnh rất bất hạnh, tôi thường vẫn duy trì sự tĩnh lặng, với một tâm tư hòa bình tịnh trú.  Tôi nghĩ điều này rất hữu ích.  Chúng ta đừng xem bao dung và kiên nhẫn là những dấu hiệu của yếu đuối.  Tôi xem chúng là những dấu hiệu của sức mạnh.

Khi chúng ta đối diện với một kẻ thù hay một nhóm người muốn làm tổn hại chúng ta, chúng ta có thể xem điều này  là một cơ hội để phát triển kiễn nhẫn và bao dung.  Chúng ta cần những phẩm chất này: chúng hữu dụng đối với chúng ta.  Và chỉ trường hợp chúng ta phải phát triển chúng là khi chúng ta bị thách thức bởi một kẻ thù.  Do vậy, từ quan điểm này, kẻ thù chúng ta là đạo sư của chúng ta, là vị thầy của chúng ta.  Bất chấp động cơ của họ, theo quan điểm này, kẻ thù là rất lợi ích, một sự gia hộ.

Thông thường, những thời điểm khó khăn của đời sống cung cấp cho chúng ta những cơ hội tốt nhất để đạt được những kinh nghiệm và phát triển sức mạnh nội tại.  Ở Hoa Kỳ những thành viên của thế hệ trẻ, những người có một đời sống dễ dàng, thoải mái thấy khó khăn để đối diện ngay cả những rắc rối nhỏ.  Họ tức thời bắt đầu la lối.  Thật hữu ích để quán chiếu trong những gian khổ mà thế hệ lớn hơn ở Hoa Kỳ và Âu châu phải đối phó, hay những thứ mà tổ tiên quý vị phải chịu đựng trong khi định cư trên mãnh đất này.

Tôi thấy rằng thật sai lầm trong xã hội hiện đại, chúng ta có khuynh hướng từ chối những người đã phạm phải tội ác - các tù nhân, thí dụ thế.  Kết quả là thông thường chính người ta đánh mất hy vọng.  Họ đánh mất cảm nhận trách nhiệm và nguyên tắc của họ.  Kết quả là bi thảm hơn, khổ đau hơn, và bất hạnh hơn cho tất cả.  Tôi nghĩ rằng thật quan trọng cho chúng ta chuyển tải một thông điểm rõ ràng đến những người này: "Các bạn cũng là một bộ phận của xã hội.  Các bạn cũng có một tương lai.  Các bạn, tuy nhiên, phải chuyển hóa lỗi lầm hay những hành vi tiêu cực, và không được phạm phải những lỗi lầm này nữa.  Các bạn phải sống một cách trách nhiệm như những công dân tốt."

Tôi cũng thấy rất buồn khi một số, chẳng hạn như những bệnh nhân AIDS, bị từ chối bởi xã hội.  Khi chúng ta xuyên qua một bộ phận của xã hội ở trong một hoàn cảnh khốn khổ một cách đặc biệt, thật là một cơ hội tốt để thực tập cảm nhận quan tâm của chúng ta, chăm sóc và từ bi.  Tuy nhiên, tôi thường nói với mọi người, "Lòng từ bi của tôi chỉ là những từ ngữ trống rỗng.  Mẹ Teresa quá cố mới thật sự bao hàm ý nghĩa của từ bi." 

Đôi khi chúng ta tảng lờ những người ở trong các hoàn cảnh bất hạnh.  Khi tôi du hành xuyên Ấn Độ bằng xe lửa, tôi thấy những người nghèo và ăn xin trong các ga xe lửa.  Tôi thấy mọi người tảng lờ họ và ngay cả ức hiếp họ.  Những dòng lệ đôi khi trào quanh mắt tôi.  Phải làm gì?  Tôi nghĩ rằng tất cả chúng ta phải phát triển một loại thái độ đúng đắn khi chúng ta xuyên qua những hoàn cảnh bất hạnh như vậy.

Tôi cũng cảm thấy rằng quá nhiều luyến ái là không tốt.  Đôi khi tôi thấy rằng những người bạn phương Tây của tôi xem luyến ái là điều gì đấy rất quan trọng.  Giống như không có luyến ái thì đời sống của họ sẽ là vô vị.  Tôi nghĩ chúng ta phải làm một sự phân biệt giữa những khao khát tiêu cực, hay luyến ái, và phẩm chất tích cực của từ ái, nguyện ước cho hạnh phúc của người khác.  Luyến ái là thành kiến.  Nó làm tâm thức chúng ta hẹp hòi nên chúng ta không thể thấy một cách rõ ràng thực tại của hoàn cảnh, cuối cùng mang đến cho chúng ta những rắc rối không cần thiết.  Giống như những cảm xúc tiêu cực như sân hận và thù oán, luyến ái là tàn phá.  Chúng ta phải cố gắng duy trì một cảm nhận hành xã.  Điều này không có nghĩa là chúng ta không nên có cảm giác và hoàn toàn dửng dưng.  Chúng ta có thể nhận ra rằng một thứ là tốt và thứ nọ là xấu.  Rồi thì chúng ta phải hành động để loại bỏ thứ xấu và sở hữu hay tăng cường thứ tốt.

Có một sự thực tập Phật Giáo mà trong ấy hành giả quán tưởng ban niềm vui và cội nguồn của mọi niềm vui cho người khác, do thế, loại trừ mọi khổ  đau của họ.  Dĩ nhiên, mặc dù chúng ta không thể thay đổi hoàn cảnh của họ.  Tôi thật sự cảm thấy rằng trong một số trường hợp, qua cảm nhận chân thành về chăm sóc và từ bi, qua sự chia sẻ cảnh ngộ khó khăn của họ, thái độ của chúng ta có thể giúp để làm vơi bớt nổi khổ của họ, dù là chỉ tinh thần mà thôi.  Tuy nhiên, điểm chính của sự thực tập này là để gia tăng sức mạnh và can đảm nội tại.

Tôi đã chọn một vài dòng mà tôi cảm thấy có thể được chấp nhận bởi tất cả mọi tín ngưỡng và ngay cả những ai không có niềm tin tâm linh.  Khi đọc những dòng này, nếu các bạn là những hành giả tôn giáo, chúng ta có thể quán chiếu trên những bổn tôn (Phật, trời, thánh, thần,…) mà các bạn tôn thờ.  Một Ki Tô hữu có thể nghĩ về Giê-Su hay Thượng Đế; một người Hồi Giáo có thể quán chiếu về Allah.  Rồi thì trong khi quán chiếu trên những dòng này, hãy thực hiện chí nguyện làm tăng trưởng những giá trị tâm linh của bạn.  Nếu các bạn không có tôn giáo, các bạn có thể quán chiếu trên sự kiện rằng, một cách nền tảng, tất cả chúng sanh là bình đẳng với bạn trong nguyện ước cho hạnh phúc của họ và khát vọng của họ để vượt thắng mọi khổ đau.  Nhận ra điều này, chúng ta thực hiện một lời hứa nguyện để phát triển một trái tim lương thiện.  Điều quan trọng nhất là chúng ta có một trái tim nồng ấm.  Cho đến khi chúng ta là một bộ phận của xã hội loài người, thật rất quan trọng để là một người tử tế và nhiệt tình.

Nguyện cho người nghèo tìm thấy sự thịnh vượng,
Những người yếu đuối với sầu khổ thấy niềm vui,
Nguyện cho những người tuyệt vọng tìm thấy hy vọng mới,
Liên tục hạnh phúc và phồn vinh.


Nguyện cho sự chấm dứt hoảng hốt là sợ hãi
Và những ai bị trói buộc được giải thoát.
Nguyện cho người yếu đuối tìm thấy sức mạnh,
Và nguyện cho trái tim của họ hòa hiệp trong tình thân hữu.

23/9/2012


Monday, November 3, 2014

NÓI VỚI NGƯỜI PHẬT TỬ PHƯƠNG TÂY

NÓI VỚI NGƯỜI PHẬT TỬ PHƯƠNG TÂY




His Holiness the Dalai Lama

__

Chúng ta quy tụ nơi đây hôm nay, một buổi nói chuyện phổ thông, bởi vì mỗi chúng ta đang tìm kiếm một ý  nghĩa sâu xa trong đời sống.  Trong vài ngày qua chúng tôi đã nói nhiều lần rằng cùng với tiến trình vật chất, sự phát triển nội tại là quan trọng và hữu ích.  Tự quý vị có thể quán sát thấy rằng khi những người có năng lực nội tại mạnh mẻ  gặp phải những vấn nạn, họ được trang bị tốt hơn để đối mặt với chúng.  Trong trường hợp của Tây Tạng và kinh nghiệm của chính mình, mặc dù có thể có giới hạn, chúng tôi thấy điều này là đúng.  Một số người trong vị trí của chúng tôi, trong trường hợp phức tạp và có những trách nhiệm rộng lớn, dưới những tình trạng như vậy, có thể trở nên có một số vấn đề tinh thần.  Tuy thế, như quý vị có thể thấy trên khuôn mặt tôi, chúng tôi không quá buồn phiền.  Dĩ nhiên, chúng tôi nhận thức những vấn đề rất to tát, thảm họa; nhưng chúng tôi chấp nhận chúng như những sự thật và cố gắng làm những gì tuyệt nhất có thể.  Không nghi ngờ gì nữa một thái độ của sức mạnh nội tại có thể hổ trợ; nó ảnh hưởng phương cách chúng ta tiếp cận và đối diện với những vấn đề.

Bởi vì mỗi người ít hay nhiều có cùng tính tự nhiên, sự thực hành tôn giáo, trong trường hợp này là Phật giáo, có những điều thâm sâu và lợi ích cho đời sống chúng ta.  Điều này không cần thiết để mang đến một sự tái sinh tốt đẹp, và xa hơn thế; ngay cả trong đời sống này nếu chúng ta tiếp nhận một thái độ đúng đắn đối với những con người đồng loại của chúng ta, tự nó sẽ mang lại những sự thỏa lòng to lớn.   Những nguyên tắc chính là động cơ tốt và từ bi yêu thương.

Mặc dù từ bi yêu thương được giải thích một cách chính yếu trong kinh điển Bồ tát đạo – Đại thừa – nhưng tất cả những  ý tưởng Phật giáo đặt căn bản trên từ bi yêu thương.  Tất cả những lời dạy của Đức Phật có thể tuyên bố trong hai câu: - Thứ nhất là, “Quý vị phải giúp đở những người khác.”  Điều này bao gồm tất cả những lời giáo huấn của Đại thừa.  - “Nếu không, quý vị không nên làm tổn hại kể khác.”  Đây là tất cả những lời dạy của Thanh văn thừa, hay Thượng tọa bộ.  Nó phát biểu căn cứ trên tất cả những điều giới luật (đạo đức), chính là điều để chấm dứt tổn hại người khác.  Những lời giáo huấn của cả hai trường phái là đặt cơ sở trên tư tưởng của yêu thương, từ bi.  Một Phật tử, nếu có thể, nên giúp đở người khác.  Nếu điều này không thể, tối thiểu đừng làm bất cứ điều gì tổn hại kẻ khác.

Khi chúng ta thực hành, khởi đầu, như một căn bản chúng ta kiềm chế chính mình dừng lại những hành động xấu, điều có thể tổn hại kẻ khác, một cách tối đa mà chúng ta có thể.  Điều này là để che chở hay  phòng ngự (chư ác mạc tác – chớ làm những điều ác).  Sau đấy, khi chúng ta đã phát triển những phẩm chất nào đấy, rồi thì như một mục tiêu hành động chúng ta nên giúp đở kẻ khác (chúng thiện phụng hành – hãy làm các điều lành).  Trong trình độ đầu tiên, đôi khi chúng ta cần cô lập trong khi theo đuổi sự phát triển nội tại của chính mình; tuy nhiên, sau khi chúng ta có một sự vững vàng nào đấy, một sức mạnh nào đấy, chúng ta phải duy trì với sự tiếp xúc, và phục vụ xã hội trong bất cứ lĩnh vực nào – sức khỏe, giáo dục, chính trị, hay bất cứ điều gì.

Có một số người tự gọi chính họ là có khuynh hướng tôn giáo, cố gắng để biểu lộ điều này bằng việc ăn mặc trong một kiểu dáng khác thường, duy trì một cách sống đặc biệt, và cô lập chính họ với toàn thể xã hội còn lại.  Điều đó là sai lầm.  Kinh điển về tịnh hóa tâm linh (rèn luyện tâm thức) nói rằng,  “Chuyển hóa quan điểm nội tại, nhưng hãy để bên ngoài của quý vị như nó là.”  Điều này là quan trọng.  Bởi vì mục tiêu chính của việc thực hành Đại thừa là phụng sự người khác, chúng ta không cô lập chính mình với xã hội. Để phục vụ, để giúp đở, để   hổ trợ chúng ta phải duy trì sự hiện diện trong xã hội.

Đây là điểm thứ nhất.  Điểm thứ hai là, đặc biệt trong Phật giáo trong khi chúng ta thực hành chúng ta  phải xử dụng cả khối óc cũng như trái tim (lý trí và tình cảm).  Về phương diện đạo đức, chúng ta phải thực hành phẩm chất của một trái tim tốt lành và nồng ấm; cũng thế, vì Phật giáo liên hệ rất nhiều  trong lý trí và sự hợp lý (logic) – về  phía tuệ trí – thông minh là quan trọng.  Do vậy, một sự phối hợp của tuệ trí và con tim là cần thiết.  Không có kiến thức, không có sự thông tuệ hữu dụng đầy đủ, chúng ta không thể  tiếp cận chiều sâu của giáo nghĩa đạo Phật; thật khó khăn để đạt đến trình độ cụ thể hay phẩm chất tuệ trí toàn hảo.  Cũng có thể có những trường hợp ngoại lệ, nhưng đây là nguyên tắc thông thường.

Cần thiết có một sự phối hợp của lắng nghe, suy nghĩ, và thiền quán (văn, tư, tu).  Khi tham dự nghe pháp, thật quan trọng để hòa hiệp tâm thức, làm cho tâm thức quen thuộc, với điều đang được nghe.  Học hỏi về tôn giáo không giống như học tập lịch sử. Nó phải được hòa hiệp với tiến trình tinh thần của chúng ta; tâm thức chúng ta phải nên được tràn ngập với nó.  Một kinh điển nói rằng những sự thực hành giống như một tấm gương; những hành động của thân thể, lời nói, và tâm ý chúng ta giống như một gương mặt được thấy trong gương; và qua sự thực tập chúng ta nên nhận ra những lỗi lầm và từ từ loại bỏ chúng.  Khi nó được nói trong truyền khẩu,  “Nếu có đủ không gian giữa chính quý vị và sự thực hành để cho người nào khác bước xuyên qua, thế thì quý vị không đang thực hành những giáo huấn một cách  thích đáng.”  Trong trường hợp đó, sự thực hành trở thành điều gì ấy giống như một đối tượng của sự giải trí.  Và nếu nó là thế đấy, nó có thể biến thành một đối tượng của tranh cải.  Rồi thì sau một cuộc giao thoa hữu hảo của tranh luận, nó ngay cả có thể đưa đến đấu đá.  Điều này hoàn toàn không phải là mục tiêu của tôn giáo.

Trong khi chúng ta học hỏi về những sự thực hành, chúng ta phải liên hệ chúng với chính thái độ của chúng ta.  Có một câu chuyện của một học giả du già Gadamba, người đang đọc Luật tạng (những nguyên tắc) rằng không thích hợp để dùng da thú làm tọa cụ; ông ta đang ngồi trên tấm da gấu, thế là ông lập tức rút nó ra khỏi chỗ ngồi của mình.  Rồi thì khi ông đọc tiếp, ông ta học được rằng được phép dùng những thứ như thế nếu thời tiết quá lạnh hay người ấy bệnh, và vì vậy ông ta cẩn thận đặt nó trở lại chỗ ngồi.  Đây là một sự thực hành đúng đắn – lập tức thực hành điều gì mà mình đang học hỏi.

Nếu một người đang học hỏi tôn giáo ở trình độ phổ thông hay Phật giáo như một sự học vấn bài bản chuyên môn, nó là một thực trạng khác nhau ngay từ đầu.  Mục tiêu chỉ là để thu thập kiến thức của một chủ để khác của học vấn.  Tuy vậy, chúng ta là những Phật tử, chúng ta phải thực tập, nên cố gắng thực hiện những điều giáo huấn trong khi mình đang học hỏi.  Rồi thì chúng ta có thể kinh nghiệm giá trị thực sự của chúng.

Điểm thứ ba chúng tôi muốn trình bày là khi chúng ta bắt đầu thực hành, chúng ta không nên dự đoán quá nhiều.  Chúng ta sống trong thời đại của máy điện toán và tự động hóa, vì thế chúng ta có thể cảm thấy rằng sự phát triển nội tại cũng là một thứ tự  động , một thứ mà chúng ta có thể bấm một nút và mọi thứ thay đổi.   Nó không phải như vậy.  Sự phát triển nội tại không dễ dàng và sẽ cần có thời gian.  Tiến trình ngoại tại, những sứ mệnh không gian sau cùng và tiếp theo, không phải đạt đến trình độ hiện tại trong một thời gian ngắn mà trải qua hàng thế kỷ, mỗi thế hệ làm nên một sự phát triển xa hơn căn cứ trên những điều của thế hệ trước.  Tuy nhiên, sự phát triển nội tại thật sự khó khăn hơn vì sự trau dồi nội tại không được chuyển tiếp từ thế hệ này sang thế hệ khác.  Kinh nghiệm kiếp sống quá khứ ảnh hưởng rất nhiều đến đời sống hiện tại, và kinh nghiệm của đời sống này trở thành căn bản cho sự tái sinh kế tiếp phát triển, nhưng việc  chuyển tiếp sự phát triển nội tại từ một người này đến một người khác là không thể được.

Chúng tôi đã gặp nhiều người phương Tây, những người rất hào hứng về việc thực tập của họ lúc mới bắt đầu, nhưng sau vài năm đã hoàn toàn quên lãng nó, và không có vết tích gì về những thứ họ đã từng thực tập.  Đây là bởi vì họ đã kỳ vọng quá nhiều lúc khởi đầu. Trong tác phẩm “Dấn thân tron những hành động của Bồ tát” của Tôn giả Tịch Thiên (Shantideva) nhấn mạnh sự quan trọng của việc thực hành nhẫn nại, kiên trì, và bao dung.  Sự bao dung kiên trì là một thái độ không chỉ đối với kẻ thù của chúng ta mà cũng là một thái độ của hy hiến, của kiên quyết, vì thế chúng ta không rơi vào sự lười biếng, giải đãi của sự ngã lòng. Chúng ta nên thực hành nhẫn nại, hay kiên trì và bao dung, với sự quyết tâm rộng lớn.  Điều này là quan trọng.

Để chúng tôi dùng chính mình làm một thí dụ.  Chúng tôi sinh ra trong một gia đình Phật giáo trong một xứ sở mà Phật giáo là chính yếu, mặc dù có Ki tô giáo, Hồi giáo cũng như nhiều tín đồ theo tôn giáo cổ truyền của Tây Tạng, đạo Bon.  Chúng tôi có thể học Phật giáo từ ngôn từ mẹ đẻ và từ một tuổi rất trẻ đã trở thành một tu sĩ.  Vì thế, từ quan điểm thực hành những lý thuyết Phật giáo, chúng tôi có nhiều khả năng hơn quý vị.  Nhưng trong dạng thức của chính sự phát triển của mình, trong khoảng mười lăm hay mười sáu tuổi chúng tôi bắt đầu thật sự có nhiệt tình cho việc thực tập.  Chúng tôi bắt đầu thực tập từ lúc ấy cho đến bây giờ.  Nhìn lại những năm tháng ấy, chúng tôi có thể chú ý có sự cải thiện trải qua một thời gian của hai đến ba năm.  Trong ít tuần, chúng tôi nhận biết rất ít.  Vì thế, quyết  định để thực hành không đánh mất nổ lực là rất quan trọng.

Sự  phát triển nội tại đến từng bước một.  Chúng ta có thể nghĩ, “Hôm nay sự tính lặng nội tại của tôi, sự an bình tinh thần của tôi, thì rất nhỏ, rất yếu,” nhưng nếu chúng ta so sánh, chúng ta nhìn lại năm, mười, hay mười lăm năm trước, và nghĩ “phương cách suy nghĩ của tôi lúc ấy là gì?”  “Tôi có sự yên bình nội tại bao nhiêu lúc ấy và nó là gì hôm nay?” – so sánh nó với những gì lúc ấy, chúng ta có thể nhận thức rằng có một sự tiến triển nào đấy, nó  một giá trị nào đấy.  Đây là điều mà chúng ta nên so sánh và so sánh như thế ấy – không phải với cảm nhận hôm nay và cảm nhận  hôm qua, hay tuần rồi, hay tháng rồi, ngay cả năm rồi, nhưng năm năm rồi.  Rồi thì chúng ta có thể nhận thức rằng những gì cải thiện đã xảy ra một cách nội tại.  Tiến trình đến bằng sự duy trì nổ lực liện tục trong sự thực tập hàng ngày.

Đôi khi người ta hỏi chúng tôi rằng Phật giáo – một nền giáo huấn cổ xưa đến từ phương Đông – có thích hợp cho người phương Tây hay không.  Câu trả lời của tôi là căn bản của tất cả các tôn giáo để đối trị với những vấn nạn cơ bản của loài người.  Khi chúng ta là con người, dù Tây hay Đông – đen , trằng, vàng, hay đỏ - có những khổ đau của sinh đẻ, bệnh tật, tuổi tác, và chết, tất cả là bình đẳng trong sự quan tâm ấy.  Khi mà những khổ đau đó của con người vẫn hiện diện, vì chính yếu giáo huấn được quan tâm với những khổ đau đó, không có nhiều cho câu hỏi là nó có thích hợp hay không.

Tuy thế, có một câu hỏi với sự quan tâm đến khuynh hướng tinh thần của mỗi cá nhân.  Cho một số cá nhân, một tôn giáo nào đấy mang đến nhiều lợi lạc hơn trái lại trong những trường hợp khác những tôn giáo khác lại mang đến nhiều lợi ích hơn.   Dưới những hoàn cảnh, những giáo huấn đa dạng khác nhau được thấy là cần thiết và hữu dụng cho xã hội loài người, không nghi ngờ gì có những người tìm thấy Phật giáo thích hợp cho những yêu cầu của họ.

Khi nói về tính chất, không có câu hỏi về thích hợp hay không cần thiết thay đổi căn bản của lý thuyết.  Tuy thế, sự thay đổi trên trình độ bể mặt hình thức là có thể.  Một tu sĩ Miến Điện của truyền thống Thượng tọa bộ (Theravada) mà tôi vừa mới gặp ở Âu châu và tôi đã phát triển tôn trọng sâu sắc vị ấy, đã làm sự phân biệt giữa di sản văn hóa và chính tôn giáo.  Tôi gọi điều này là sự khác biệt giữa tính chất của một tôn giáo và những cấp độ nghi thức cúng kính hay lễ lạc.  Ở Ấn Độ, Tây Tạng, Trung Hoa, Nhật Bổn hay bất cứ nơi nào, khía cạnh tôn giáo của đạo Phật là giống nhau, nhưng di sản văn hóa là khác nhau trong mỗi quốc gia.  Do vậy, ở Ấn Độ, Phật giáo hòa hiệp với văn hóa Ấn Độ; ở Tây Tạng, là văn hóa Tây Tạng, v.v. và v.v…  Từ quan điểm này, sự hòa hiệp với nền văn hóa  Tây phương vào trong Phật giáo là điều cũng có thể.

Bản chất của giáo nghĩa đạo Phật là không thay đổi; bất cứ nơi nào nó đến là nó phù hợp; tuy vây, những khía cạnh bên ngoài – những nghi thức hay lễ lược nào đấy – là không cần thiết thích ứng cho một môi trường mới;  những thứ đó sẽ thay đổi.  Chúng sẽ thay đổi thế nào trong những nơi chốn cụ thể chúng ta không thể nói.  Khi Phật giáo lần đầu tiên đến Tây Tạng từ Ấn Độ, không ai có thẩm quyền để nói, “Bây giờ đạo Phật đã đến một vùng đất mới; từ bây giờ trở về sau chúng ta phải thực hành trong cách này hay cách kia.”  Đã không có những quyết định như vậy.  Nó tiến triển dần dần, và trong một thời gian một truyền thống đặc thù đã khởi lên.  Điều như thế có thể là trường hợp của những người phương Tây; dần dần, trong một thời gian, có thể có sự phối hợp của Phật giáo với nền văn hóa Tây phương.  Trong trường hợp nào đi nữa, thế hệ này – thế hệ của quý vị - những người bắt đầu ý tưởng mới này trên những xứ sở mới có một trách nhiệm to lớn để mang bản chất và điều phối nó trong chính môi trường của quý vị.

Vì điều này chúng ta phải dùng bộ não để quán sát.  Quý vị không nên đi theo cực đoan nào – quá bảo thủ thì không tốt, quá nhạy cảm thì cũng không tốt.  Như trong lý thuyết Trung đạo của chúng tôi, chúng ta nên đi theo tiến trình vừa phải.  Điều rất quan trọng là giữ một sự tiếp cận trung bình trên mọi lãnh vực.  Ngay cả trong việc tiêu thụ thực phẩm hàng ngày của chúng ta, chúng ta phải theo một cách vừa phải.  Quá nhiều trong bao tử, rắc rối sẽ đến với chúng ta; quá ít thì không đủ.  Vì thế cho nên, trong đời sống hàng ngày – trong cung cách toàn diện của đời sống – rất quan trọng để duy trì trong sự trung bình; cả hai cực đoan phải được kiểm soát lại.  Bộ não này phải có đầy đủ kiến thức về môi trường và sự kế thừa văn hóa – đầy đủ kiến thức về những thứ ấy là giá trị trong đời sống hằng ngày và những gì không hữu dụng trong cuộc sống hàng ngày, dù nó là một phần của di sản văn hóa.

Trong trường hợp của nền văn hóa Tây Tạng, thí dụ, những truyền thống nào đấy trong quá khứ có thể không hữu dụng trong tương lai.  Khi dưới những hoàn cảnh mới hệ thống xã hội và cung cách suy nghĩ của xã hội thay đổi, những phương diện nào đấy có thể không hữu dụng nữa.  Cũng giống như thế, nếu ở Hoa Kỳ và Gia Nã Đại có một số khía cạnh văn hóa cũ kỷ không hữu ích trong đời sống hàng ngày của thời đại, chúng nên được loại bỏ, và những phương diện khác vẫn có ý nghĩa đầy đủ và hữu dụng nên được duy trì.  Quý vị nên phối hợp nền văn hóa ấy với Phật giáo.

Nếu chúng ta thực sự hấp dẫn với Phật giáo, thế thì điều quan trọng nhất là sự tứng dụng – thực hành.  Học hỏi đạo Phật và rồi thì dùng nó như một vũ khỉ nhằm mục tiêu phê phán những triết lý hay ý tưởng khác là sai.  Mục tiêu chính của tôn giáo là để chế phục chính mình, không phải để phê phán kẻ khác.  Tốt hơn chúng ta nên bình phẩm chính mình.  Tôi đã làm được bao nhiêu với sự giận tức của tôi? Với sự vướng mắc của tôi, với sự thù hận của tôi, với sự kiêu kỳ của tôi, sự ghen tỵ của tôi?  Đây là những thứ mà chúng ta phải kiểm soát lại trong đời sống hằng ngày với kiến thức của giáo nghĩa đạo Phật.  Rõ chứ?

Như những Phật tử, trong khi thực hành những giáo huấn của mình, chúng ta phải tôn trọng những tín ngưỡng khác,  Do Thái giáo, Ki Tô giáo, v.v.và v.v… Chúng ta phải nhận thức và cảm niệm sự cống hiến của những tôn giáo ây qua nhiều thế kỷ quá khứ đến xã hội loài người. và vào lúc này chúng ta phải cố gắng để làm một nổ lực công cộng để phục vụ con người.  Sự tiếp nhận một thái độ đúng đắn đối với những tín ngưỡng khác là quan trọng một cách đặc biệt cho những người Phật tử mới duy trì trong tâm tư của mình.

Cũng trong những người Phật tử, có nhiều trường phái khác nhau, nhiều hệ thống khác nhau để thực hành, chúng ta không nên nghĩ rằng trường phái này là tốt hơn, trường phái  đó là tệ hơn, v.v. và v.v…Cảm giác và bình phẩm môn phái về những nền giáo lý khác hay những giáo phái khác nhau là rất xấu, là độc tố, và nên tránh.

Điều quan trọng nhất là sự thực tập trong đời sống hàng ngày; rồi thì quý vị từ từ sẽ biết giá trị thực sự của tôn giáo.  Giáo lý không có nghĩa đơn thuần là kiến thức mà để cho sự cải thiện tâm thức chúng ta.  Để làm điều ấy, nó phải là một phần của đời sống hàng ngày của chúng ta.  Nếu đặt giáo thuyết vào một tòa nhà và khi quý vị rời tòa nhà sao lãng việc thực tập, quý vị không thể đón nhận giá trị của nó.

Chúng tôi hy vọng rằng sự dấn thân vào trong việc thực tập của quý vị với một trái tim tốt lành và tự một động cơ cống hiến điều gì đấy tốt đẹp đến xã hội phương Tây.  Đấy là sự cầu nguyện và ước muốn của chúng tôi.

__

1-    HỎI:  Vai trò gì của vị thầy trong sự thực hành?  Có cần thiết để có một vị thầy không?

ĐÁP:  Vâng, nhưng nó tùy thuộc trên chủ đề.  Những chủ đề thông thường, những khái niệm Phật giáo phổ thông, có thể tự học qua sách vở.  Nhưng với những chủ đề phức tạp nào đấy là khó khăn để hiểu nếu chỉ đọc sách mà không có một người từng trải chỉ dẫn và giải thích.

2-    HỎI:  Một người, đặc biệt ở phương Tây, phải có nền tảng của sự khiêm tốn, chân thực và một đời sống đạo đức.  Một khi người ấy có nền tảng này, những gì khác mà Ngài khuyến nghị người ấy trau dồi trong đời sống của họ. nếu có một nền tảng đạo đức, luân lý, và khiêm tốn?

ĐÁP:  Việc làm kế tiếp là trau dồi sự vững vàng của tinh thần.  Đạo đức là một phương pháp để chế phục chính mình – Nó là một hành động bảo vệ.  Kẻ thù thực sự của chúng ta, quý vị thấy, là trong chính chúng ta.  Những cảm xúc ưu phiền đau khổ (kiêu kỳ, sân hận, ganh tị) là những kẻ thù thực sự của chúng ta.  Đây là những kẻ tạo rắc rối, và chúng được tìm thấy trong chính chúng ta.  Sự thực tập thật sự của tôn giáo rốt lại là sự đấu tranh chống lại những kẻ thù nội tại này.

Như bất cứ một cuộc chiến tranh nào, trước nhất chúng ta phải có một hành động tự vệ, và trong cuộc chiến đấu tâm linh chống lại những cảm xúc tiêu cực, đạo đức là sự tự vệ của chúng ta.  Nhận thức rằng ngay lúc đầu chúng ta không được  chuẩn bị đầy đủ cho sự công kích, chúng ta trước phải dùng đến hành động phòng vệ và đó nghĩa là đạo đức.  Nhưng một khi chúng ta đã chuẩn bị sự phòng vệ, đã trở nên gọi là quen thuộc với đạo đức, rồi thì chúng ta mới dấn thân vào việc tấn công.  Ở đây vũ khí chính của chúng ta là tuệ trí.  Vũ khí tuệ trí này giống như một viên đạn, hay có thể là một tên lữa, và người phóng hỏa tiễn thì tinh thần vững vàng hay bình lặng định tĩnh.  Tóm lại, một khi chúng ta có một căn bản  trong luân lý hay đạo đức, bước  tiếp theo là rèn luyện trong tinh thần vững vàng định tĩnh và cuối cùng là tuệ trí.

3-    HỎI:   Ngài có thể vui lòng cho chúng tôi một lời dạy bảo ngắn gọn là điều mà chúng tôi có thể mang theo chúng tôi trong đời sống  hằng ngày chứ?

ĐÁP:  Chúng tôi không biết.   Chúng tôi thật không có gì nhiều để nói.  Chúng tôi sẽ đơn giản nói điều này.   Tất cả chúng ta là những con người, và từ quan điểm này chúng ta là giống nhau.  Tất cả chúng ta muốn hạnh phúc vui tươi và chúng ta không muốn buồn rầu đau khổ.  Nếu chúng ta quan tâm đến điều này, chúng ta sẽ thấy rằng không có sự khác nhau giữa những con người khác tín ngưỡng, chủng tộc, màu da, hay văn hóa.  Tất cả chúng ta có một nguyện ước thông thường này cho hạnh phúc an lạc.

Thật sự, tất cả những Phật tử chúng ta là phải cứu hộ tất cả chúng sinh, nhưng thực tế trong lời nói, điều này có thể quá to rộng, một sự ý tưởng cho hầu hết mọi người.  Trong mọi trường hợp, chúng ta tối thiểu nghĩ trong những điều kiện của sự giúp đở tất cả chúng sinh.  Điều này rất quan trọng.  Ngay cả nếu chúng ta không thê nghĩ trong hình thức của tất cả chúng sinh sống trong những thế giới khác nhau, tuy nhiên chúng ta nên nghĩ trong giới hạn của nhân loại trên hành tinh này.  Làm điều này là đem một sự tiếp cận thực tế đến vấn đề.  Cần thiết phải giúp đở kẻ khác, không chỉ trong sự cầu nguyện, mà trong đời sống hàng ngày của chúng ta.  Nếu chúng ta thấy rằng chúng ta không thể giúp đở kẻ khác, tối thiểu chúng ta có thể làm là chừa bỏ việc làm tổn hại họ.

Trên một trình độ rất thực tiễn, những thái độ như thế là những thứ mà chúng ta cần.  Cho dù chúng ta là một người tin tưởng ở tôn giáo,hay không là một vấn đề khác.  Đơn giản như một cư dân của thế giới, như thành viên của gia đình nhân loại, chúng ta cần loại thái độ này.  Qua một thái độ như thế nền thanh bình và hòa hiệp lâu dài của thế giới có thể đạt đến được.   Qua hòa hiệp, thân hữu, và tôn trọng lẫn nhau, chúng ta có thể vượt thắng nhiều vấn nạn trong một con đường đúng đắn, mà không có khó khăn.

Đây là điều mà chúng tôi tin tưởng, và bất cứ nơi nào chúng tôi đi đến, cho dù đó là một quôc gia cộng sản như Liên bang Sô Viết hay Mongolia, hay đến một xứ sở tư bản và dân chủ như Hoa Kỳ và những nước Tây Âu, chúng tôi tuyên bố cùng một thông điệp.  Đây là sự gợi ý và khuyến nghị của tôi.  Nó là điều tôi cảm nhận.  Chính tôi thực hành điều này tối đa mà tôi có thể.  Nếu quý vị cảm thấy đồng ý với tôi, và quý vị tìm thấy giá trị nào đấy trong điều tôi vừa nói, thế thì nó đã xứng đáng.

Quý vị thấy, đôi khi những người tôn giáo, những người thể hiện chân thành trong sự thực hành tôn giáo, rút lui khỏi phạm vi hoạt động của nhân loại.  Trong quan kiến của tôi, điều này không tốt.  Nó không đúng.  Chúng ta hạn chế điều này, nhưng chúng ta nên truyền lực cho điều này.  Bởi vì trong những trường hợp nào đấy, một người ước nguyện một cách chân thành để dấn thân trong một khuynh hướng thiền quán thế thì cũng đúng đắn thôi để tìm sự cô lập cho một thời gian giới hạn nào đấy.   Nhưng những trường hợp như thế vượt xa ngoại lệ,  và đại đa số chúng ta phải thể hiện một sự thực tập chân thành trong hoàn cảnh của xã hội loài người.

Trong Phật giáo, cả học hỏi và thực tập là cực kỳ quan trọng và chúng phải đi liền với nhau.  Không có kiến thức, chỉ dựa trên tín ngưỡng, tin tưởng và tin tưởng hơn là tốt nhưng không đủ.  Vì thế, phần vận dụng lý trí phải được hiện diện một cách xác định.  Cùng lúc, sự phát triển trí óc nghiêm nhặt mà không tin tưởng cùng sự thực hành , cũng không có lợi ích.  Thật cần thiết để phối hợp kiến thức phát sinh từ sự học hỏi với sự thực hành chân thật trong đời sống hàng ngày của chúng ta.  Hai điều này phải đi đôi với nhau.

4-    HỎI:   Ngài đã từng nói về phụng sự.  Làm thế nào chúng ta có thể phụng sự trong xã hội Tây phương?

ĐÁP:  Nếu bạn giúp đở dù chỉ một người, đấy là giúp đở, là phụng sự.  Có những cơ hội rộng rãi để giúp đở người khác trong lĩnh vực học vấn, trong trường học, đại học, v.v…  Nhiều anh chị em Ki Tô hữu đang thể hiện những việc làm như thế điều mà tôi rất khâm phục và là điều mà những Phật tử phải học hỏi.  Vì thế trong lĩnh vực của học vấn và sức khỏe, bạn có thể trực tiếp cống hiến phụng sự.

Cũng thế trong những nghề nghiệp như là làm việc trong một công ty hay như một công nhân hãng xưởng, mặc dù quý vị có thể không trực tiếp giúp đở người khác, một cách gián tiếp quý vị đang phục vụ xã hội.  Ngay cả khi quý vị đang hành động vì quyền lợi lương bổng của mình, một cách gián tiếp nó hổ trợ mọi người, và quý vị nên hành động với một động cơ tốt lành, cố gắng nghĩ, “Việc làm của tôi là ý nghĩa giúp đở mọi người.”  Nếu quý vị đang chế tạo súng hay đạn, dĩ nhiên nó sẽ khó khăn.  Nếu quý vị đang chế tạo súng đạn, và luôn luôn nghĩ,”tôi đang làm điều này để giúp đở người khác,” nó sẽ là đạo đức giả, có phải không?

5-    HỎI: Tôi không cảm thấy xứng đáng như một con người.  Làm thế nào tôi có thể hành động trên điều này như một thiền sinh bắt đầu tu tập?

ĐÁP: Bạn không nên ngã lòng.  Khả năng nhân bản là giống nhau cho tất cả mọi người.  Sự cảm nhận của bạn, “tôi vô giá trị,” là sai.  Chắc chắn là sai lầm.  Bạn đang lừa dối chính mình.  Tất cả chúng ta có năng lực của tư tưởng  - vậy bạn đang thiếu điều gì?  Nếu bạn có sức mạnh ý chí, thế thì bạn có thể làm bất cứ điều gì. Nếu bạn trở nên ngã lòng, nghĩ rằng, “Làm thế nào một người như tôi có thể làm được bất cứ điều gì?”, thế thì không thể nào bạn có thể thành công.  Do vậy, trong Phật giáo thường nói rằng bạn là người thầy của chính bạn.  Bạn có thể làm bất cứ điều gì.

6-    HỎI:  Một người có thể giác ngộ mà không cần phải tách rời khỏi thế giới được không?
ĐÁP:  Chắc chắn.  Viễn ly thế giới có nghĩa là từ bỏ sự dính mắc với thế giới.  Nó không có nghĩa là quý vị phải tách biệt với nó.  Mục tiêu chính của giáo nghĩa đạo Phật là để phụng sự người khác.  Nhầm mục tiêu phục vụ người khác quý vị phải ở lại trong xã hội.  Quý vị không nên cô lập chính mình với xã hội còn lại.

7-    HỎI:  Hoàn thành tất cả điều ấy là đòi hỏi trên con đường (học hỏi, hướng dẫn, thiền quán) và hoạt động cung cấp thực phẩm, nơi cư trú, và bảo vệ cho cho gia đình một người là hai nguyện ước tròn vẹn.  Làm thế nào chúng ta có thể quân bình tất cả những lời nguyện ước của chúng ta?

ĐÁP:   Chúng ta phải hành động tối đa cả hai điều này như mình có thể làm.  Điều này vị trí của riêng tôi, vì chính tôi cố gắng để làm những sự thực hành nào đấy nhưng cùng lúc thể hiện việc làm trên thực tế lợi ích cho người khác.  Cho những người cùng trường hợp tương tự như tôi, khía cạnh quan trọng nhất là trau dồi một động cơ tốt đẹp và thể hiện chương trình hàng ngày với nó.  Trong buổi sáng sớm cũng như vào buổi tối khuya, quý vị có thể dành ít nhất nửa giờ đồng hồ trong sự thực hành thiền quán, tụng kinh, trì chú, thực tập yoga, hay những điều tương tự.  Rồi thì, trong khi làm việc ban ngày, quý vị nên nhớ đến động cơ.

Mỗi buổi sáng trước khi hoạt động, chúng ta nên phát sinh một quyết tâm để thể hiện trong ngày làm việc hôm nay theo những lời giáo huấn và cho sự lợi ích tối đa đến những người khác.  Vào buổi tối, trước khi lên giường ngũ, kiểm soát lại những gì chúng ta đã làm suốt ngày, cho dù chúng ta thực sự hành động theo với điều quyết tâm ban đầu hay không.  Đấy là cách thể hiện sự thực tập hằng ngày như thế nào.

__
A TALK TO WESTERN BUDDHISTS

Trích từ quyển “The Dalai Lama A Policy of Kindness”

Tuệ Uyển chuyển ngữ

27-05-2009





SỰ HỢP TÁC GIỮA NHỮNG TÔN GIÁO THẾ GIỚI

SỰ HỢP TÁC GIỮA NHỮNG TÔN GIÁO THẾ GIỚI


His Holiness the Dalai Lama
__

Một lần trong một tu viện ở Tây Ban Nha, gần Barcelona, tôi đã gặp một tu sĩ Ki Tô giáo, người đã dành năm năm trong một nơi ẩn dật phía sau tu viện.  Khi tôi viếng thăm nơi ấy, ông ta đến gặp tôi.  Tiếng Anh của ông ta không hay lắm, thực sự còn kém hơn tôi.  Chúng tôi không nói chuyện nhiều.  Chúng tôi nhìn vào mặt nhau.  Chúng tôi đã có một kinh nghiệm rất hạnh phúc, một loại rung động nào đấy.  Điều này giúp cho tôi hiểu kết quả thât sự về sự thực hành của Ki Tô giáo.  Ki Tô giáo có một phương pháp, truyền thống, và triết lý khác…tuy thế nó đã sản sinh một người như thế.  Tôi hỏi ông ta:  “Ông đã thực tập điều gì suốt những năm ẩn dật?”  “Tôi tập trung trên sự yêu thương,” ông  nói với tôi.   Vì thế quý vị thấy đấy, nó giống nhau chứ, có phải không ?  Nhưng điều này không có nghĩa là tất cả những giáo thuyết đều giống nhau hệt nhau.   Chúng tôi cảm thấy một sự khác biệt lớn lao hơn, đa dạng hơn giữa của các giáo thuyết có thể  lợi ích hơn vì có sự khác biệt và đa dạng của những con người.

__

HỎITại sao những truyền thống khác biệt làm cho khác nhau rất nhiều trong sự giải thích về chân lý và làm thế nào để đạt đến?

ĐÁP:  Đối với chúng tôi sự phát triển tâm linh của Phật giáo thì rất hữu ích như một sự hướng dẫn cho đời sống này. Nhưng điều này không có nghĩa là tất cả mọi người nên theo Phật giáo.  Có rất nhiều khuynh hướng tâm linh khác nhau.  Cho những người nào đấy một cách đơn giản Phật giáo không thể có tác dụng.  Những tôn giáo khác nhau đáp ứng sự cần thiết của những con người khác nhau.

__

(Từ bài nói chuyện của Đức Dalai Lama tại cuộc gặp gở của các giáo hội toàn thế giới ở Hoa Kỳ - 1979.)

Chúng ta có ở đây một cuộc hội họp của những người tin tưởng tín ngưỡng tôn giáo khác nhau là một dấu hiệu tích cực.  Trong những tín ngưỡng tâm linh, có nhiều triết lý khác nhau, một số đối lập chính với nhau về những điểm nào đấy. Những người Phật tử không chấp nhận một đấng tạo hóa; những người Ki Tô hữu căn cứ trên lý thuyết ấy.  Có những sự khác nhau rất to lớn, nhưng chúng tôi tôn trọng sâu xa niềm tin của quý vị, không chỉ vì lý do chính trị hay vì lịch sự, nhưng một cách chân thành.  Qua nhiều thế kỷ, truyền thống của quý  vị đã phụng sự nhân loại một cách sâu rộng.

Khi chúng ta nguyện cầu chung với nhau, chúng tôi cảm thấy điều gì ấy, tôi không biết dùng ngôn ngữ chính xác như thế nào – cho dù là quý vị gọi đó là sự gia hộ hay ân sủng -  nhưng trong bất cứ trừơng hợp nào có một cảm giác nào đấy mà chúng ta có thể trải qua. Nếu chúng ta xử dụng nó một cách thích đáng, cảm giác ấy rất hữu dụng cho sức mạnh nội tại – không khí và kinh nghiệm ấy – là rất hữu dụng và rất có ích.  Vì thế, chúng tôi cảm kích một cách đặc biệt những sự hội họp tôn giáo như thế này.

Tất cả những tôn giáo tín ngưỡng khác biệt, mặc dù triết lý của chúng khác nhau, có một đối tượng giống nhau.  Mọi tôn giáo nhấn mạnh nhân bản, trau dồi, yêu thương, tôn trọng vì người khác, chia sẻ sự khổ đau của nhân loại.  Trên những dòng này ít hơn hay nhiều hơn mỗi tôn giáo có cùng những  quan điềm và mục tiêu.  Thượng Đế toàn năng và tín ngưỡng trong sự yêu mến của Thượng Đế có như mục đích của họ là sự đáp ứng cho những ý định của Thượng Đế. Nhìn tât cả chúng ta như những sự tạo hóa  và tín hữu của một Thượng Đế, họ dạy rằng chúng ta nên thương mến và giúp đở những người khác.  Mục đích chính niềm tin trung thành trong Thượng Đế của họ là để hoàn thành Ước nguyện của Ngài, căn bản của điều ấy là yêu mến, tôn trọng, yêu thương, và phục vụ mỗi thành viên con người chúng ta.

Vì mục tiêu thiết yếu của những tôn giáo khác nhau là tương tự để đẩy mạnh những cảm giác lợi ích như vậy và những hành động như thế,  chúng tôi cảm thấy một cách mạnh mẻ rằng từ quan niệm này một mục tiêu trung tâm của tất những sự giải thích của những triết lý khác nhau là giống nhau.  Qua những hệ thống tôn giáo đa dạng, những tín đồ dang nắm lấy một thái độ bổ ích đối với những thành viên nhân loại của họ - những người anh chị em của chúng ta – và thể hiện động cơ tốt này trong việc phụng sự xã hội con người.  Điều này đã được minh chứng bởi một số lượng rất nhiều người tin tưởng trong Ki tô giáo qua lịch sử ; nhiều người đã hy sinh mạng sống của họ vì lợi ích của loài người.  Đây là một sự áp dụng đúng đắn của từ bi.  Khi những người Tây Tạng trải qua những thời điểm khó khăn, cộng đồng Ki tô giáo từ khắp mọi nơi trên thế giới đã đùm bọc và và chia sẻ nổi khổ đau và đẩy mạnh đến sự giúp đở của chúng tôi.   Không quan tâm đến chủng tộc, văn hóa, tôn giáo, hay triết lý khác nhau, họ xem chúng tôi như những thành viên nhân loại và đến để giúp đở.  Điều này đã cho chúng tôi một sự truyền cảm và nhận ra giá trị của sự yêu thương.

Mặc dù trong mỗi tôn giáo có một sự nhấn mạnh trong từ bi và yêu thương, từ quan điểm triết lý, dĩ nhiên có những sự khác nhau, và điều ấy cũng tốt thôi.  Những giáo huấn triết thuyết thì không có giới hạn, không dụng ý, không mục tiêu, không phải là những gì chúng ta phục vụ.  Sứ mệnh là để giúp đở và làm lợi ích cho kẻ khác, và những giáo huấn để hổ trợ cho những ý tưởng ấy là có giá trị.  Nếu chúng ta đi vào những sự khác biệt trong triết lý và tranh luận với sự phê phán nhau, nó sẽ không có lợi ích.  Sẽ không có sự chấm dứt tranh cải; kết quả sẽ chính là chúng ta làm khó chịu cho nhau – chẳng hoàn thành điều gì.  Tốt hơn hãy nhìn vào mục tiêu cảu những triết lý và để thấy điều gì được chia sẻ - một sự nhấn mạnh trên từ bi, yêu thương, và tôn trọng vì một năng lực cao hơn.

Không một tôn giáo nào tin tưởng một cách căn bản rằng tiến trình vật chất đơn thuần là đầy đủ cho nhân loại.  Tất cả những tôn giáo tin tưởng trong những năng lực vượt ngoài tiến trình vật chất.  Tất cả đồng ý rằng điều rất quan trọng và xứng đáng là làm một nổ lực mạnh mẻ để phục vụ xã hội con người.

Để làm điều này, điều quan trọng là chúng ta hiểu nhau.  Trong quá khứ, qua những khuynh hướng hẹp hòi và những nhân tố khác, đôi khi có sự bấ hòa giữa những nhóm tôn giáo.  Điều này không nên lập lại nữa.  Nếu chúng ta nhìn sâu vào trong giá trị của một tôn giáo trong tài liệu của hoàn cảnh thích hợp, chúng ta có thể vượt quá một cách dễ dàng những sự xảy ra bất hạnh này.  Vì, có nhiều lĩnh vực của những vấn đề thông thường trên ấy chúng ta có thể có sự hòa hiệp.  Hãy để chúng ta bên cạnh nhau – tôn trọng, giúp đở, và hiểu biết nhau – trong một nổ lực bình thường để phụng sự nhân loại.  Mục tiêu của xã hội loài người phải là từ bi – là sự làm cho nhân loại tốt hơn.

HỎINhư một lĩnh tụ tôn giáo, Ngài có thích thú trong hành động khuyến khích những người khác tham gia tín ngưỡng của Ngài không?  Hay Ngài có ở trong vị trí sẵn sàng nếu có ai đấy tìm kiếm kiến thức trong tôn giáo của Ngài không?

ĐÁP:  Đây là một câu hỏi quan trọng.  Chúng tôi không thích thú trong việc thay đổi người khác qua Phật giáo mà trong việc người Phật tử làm thế nào để có thể cống hiến cho xã hội con người, theo ý kiến của chính chúng tôi, tôi tin rằng những tín ngưỡng tôn giáo khác cũng nghĩ trong một cách tương tự như thế, tìm sự cống hiến cho một khuynh hướng phổ quát.

Bời vì những tôn giáo khác nhau đã có những lần tranh luận với nhau hơn là tập trung trên sự làm thế nào để cống hiến cho một khuynh hướng công cộng, hai mươi năm qua ở Ấn Độ chúng tôi đã từng nắm lấy mọi cơ hội để gặp gở những tu sĩ Ki tô giáo – Thiên chúa giáo và Tin lành -  cũng như Hồi giáo và Do thái giáo, dĩ nhiên ở Ấn Độ, nhiều người Ấn giáo.  Chúng tôi gặp gở, cầu nguyện với nhau, thiền quán với nhau, và thảo luận những ý tưởng triết lý của họ, phương pháp họ tiếp cận, những kỷ thuật của họ.  Chúng tôi đã có sự háp dẫn lớn đối với sự thực hành của Ki tô giáo, những gì chúng tôi  có thể học và mô phỏng từ phương  pháp của họ.  Tương tự thế, trong triết lý Phật giáo có có những điểm như là thiền quán là điều có thể được thực tập trong thánh đường Ki tô giáo.

Giống như Đức Phật đã chỉ một thí dụ về sự vừa lòng, bao dung, và phục vụ người khác mà không có động cơ ích kỷ, Đức Chúa Giê-su cũng thế.  Hầu hết tất cả những bậc thầy vĩ đại sống một đời sống thánh thiện – không xa hoa giống như như những vị vua hay hoàng đế nhưng như một con người giản dị.  Sức mạnh nội tại của họ là bao la, vô giới hạn, nhưng sự hiện diện bên ngoài là sự vừa lòng với một cung cách giản dị của đời sống.

HỎICó thể có một sự tổng hợp của Phật giáo, Do thái giáo, Ki tô giáo, Ấn độ giáo, và tất cả những tôn giáo, hội tụ những điều tuyệt hảo nhất, và hình thành một tôn giáo thế giới không?

ĐÁP:  Hình thành một tôn giáo thế giới mới là khó khăn và không phải là một sự khao khát đặc biệt.  Tuy thế, trong sự yêu thương là căn bản thiết yếu đến tất cả mọi tôn giáo, chúng ta có thể nói về một tôn giáo hoàn cầu của yêu thương.  Như cho những kỷ thuật và những phương pháp vì sự phát triển yêu thương cũng như cho việc đạt đến sự cứu độ hay sự giải thoát trường cửu, có nhiều sự khác nhau giữa những tôn giáo.  Vì thế, chúng tôi không nghĩ chúng ta có thể  tạo nên một triết lý hay một tôn giáo.

Xa hơn thế, chúng tôi nghĩ rằng sự khác nhau trong tín ngưỡng thì rất hữu dụng.  Có một sự phong phú trong sự kiện rằng có rất nhiều sự hiện hữu khác nhau của phương pháp.  Đưa ra điều ấy để thấy rằng có rất nhiều loại người với những khuynh hướng và sở thích đa dạng, điều này rất hữu ích.

Cùng lúc, động cơ của sự thực của tất cả những tôn giáo là tương tự - yêu thương, chân thành và lương thiện.  Cung cách sống thực tiễn của những cá nhân của tất cả những tôn giáo là sự vừa lòng.  Những giáo huấn về bao dung, yêu thương, và từ bi là giống nhau.  Một mục tiêu căn bản là sự lợi ích của nhân loại – mỗi loại phương pháp tìm kiếm trong chính phương pháp đặc biệt của nó để dải thiện loài người.  Nếu chúng ta nhấn mạnh quá nhiều trên triết lý, tôn giáo, hay lý thuyết của chính chúng ta, là quá dính mắc với nó, và cố gắng  áp đặt nó lên những người khác, nó sẽ tạo nên rắc rối.  Một cách căn bản tất cả những bậc thầy vĩ đại, như là Đức Phật Thích Ca, Giê-su Ki-tô, Mohammed, xây dựng nên những lời giảng dạy mới với một động cơ về sự giúp đở cho những thành viên nhân loại của họ.  Các Ngài không có ý đạt đến điều gì cho chính các Ngài hay tạo nên thêm những rắc rối hay bất an cho thế giới.

Điều quan trọng nhất là chúng ta tôn trọng nhau và học hỏi lẫn nhau những điều mà sẽ làm phong phú cho sự thực hành của chúng ta.  Ngay cả nếu tất cả những hệ thống là riêng biệt. vì chúng có cùng mục tiêu giống nhau, sự học hỏi lẫn nhau là hữu ích.

HỎIThỉnh thoảng khi chúng tôi nghe tông giáo Đông phương so sánh với văn hóa Tây phương, phương Tây được tạo nên dường như nặng về vật chất và ít tỏ ngộ hơn phương Đông.   Ngài có thấy một sự khác biệt như vậy không?

ĐÁP:   Có hai loại thực phẩm – thực phẩm cho sự đói khát tinh thần và thực phẩm cho sự đói khát vật lý.  Vì thế phối hợp hai thứ này – tiến trình vật chất và sự phát triển tâm linh là một điều rất thực tiễn.  Chúng tôi nghĩ rằng nhiều người Hoa Kỳ, đặc biệt là những người trẻ, nhận thức rằng tiến trình vật chất đơn thuần thì không là một câu trả lời đầy đủ cho đời sống con người.  Ngay bây giờ tất cả những quốc gia phương Đông đang sao chép kỷ thuật của phương Tây.  Chúng tôi những người phương Đông như là người Tây Tạng, như chính tôi, nhìn vào kỷ thuật phương Tây cảm thấy rằng một khi chúng ta phát triển tiến trình vật chất, nhân dân chúng ta có thể đạt đến một số hạnh phúc thường trực nào đấy.  Nhưng khi chúng tôi đến Âu châu hay Bắc Mỹ, chúng tôi thấy rằng bên dưới bề  mặt xinh đẹp vẫn có tình trạng bất hạnh khổ sở, tim thần bất an, và sự hiếu động thao thức.  Điều này chỉ cho thấy rằng tiến trình vật chất đơn thuần không là một câu trả lời đầy đủ cho nhân loại.

__

Thủ đô Hoa Sinh Tân, Hoa Kỳ, NJ, 25 tháng chín, 1989

“Đức Dalai Lama dạy chúng ta nhiều về Phật giáo,  ngay cả còn nhân bản trong sáng hơn, và hầu hết tất cả về Do thái giáo.  Như tất cả những nhận thức đối thoại chân thật, sự tham gia này với Đức Dalai Lama mở ra cho chúng ta đến tính chính trực của tôn giáo khác.  Có giá trị như nhau, sự gặp gở nhắc chúng tôi về những khia cạnh thờ ơ của chính chúng tôi, của những yếu tố sơ xuất trong Do thái giáo cho đến khi chúng được phản ánh lại chúng tôi trong tấm gương của Người khác.”
-         Rabbi Irving Greenberg

“Những người Quốc xã đến với những người chúng tôi như những người Cộng sản Tàu đến với những người của Ngài.”
-         Rabbi Laurence Kushner

__

Một cuộc đối thoại bất thường giữa Phật giáo và Do thái giáo xảy ra hôm nay, tại một tu viện Phật giáo tọa lạc trên một ngọn đồi xanh bình dị vươn lên bên trên những thương xá buôn bán và khu buôn bán hạ giá của New Jersey.

“Chúng tôi muốn học ‘kỷ thuật bí mật’ về sự sống còn” của Do thái giáo,” Đức Dalai Lama nói, người đã bắt đầu cuộc hội họp.  Vị lĩnh tụ của sáu triệu người Tây Tạng cũng như hàng nghìn người phương Tây nói Ngài bị kích thích bởi vài sự song hành có thể có giữa Do thái giáo và Phật giáo Tây Tạng.  Điều này bao gồm một sự cống hiến đến sự học hỏi của hàng học giả vả, trong tường tận, một sự tin tưởng trong tính thiêng liêng và sự phụ thuộc hổ tương của tất cả đời sống.

Chiếc còi bằng sừng cừu và chiếc khăn choàng được trao cho vị lĩnh tụ Phật giáo rạng rở, người đặt chiếc còi vào trong thắt lưng và quàng chiếc khăn choàng qua tấm áo tu sĩ của người.

Cuộc thảo luận sống động kéo dài ba giờ đồng hồ, và mặc dù nó là trọng tâm trên những vấn đề nghiêm trọng của tính nhất định hiện hữu trong văn hóa cho dù là sự ly tán của người Do Thái, và sự tỉ giảo tôn giáo, những vấn đề thuộc vũ trụ học và thần học, nó được nhấn mạnh với tiếng cười.

Nói lời bế mạc cuộc gặp gở, giáo sĩ Do Thái Kushper nói về những tương đồng giữa Phật giáo Tây Tạng và cốt lõi tâm linh của Do Thái giáo.  “Cốt tủy của Do Thái giáo là linh cảm không thể chế ngự rằng sự thống nhất của tất cả sinh linh là vượt xa sự biểu hiện của thân thể vật lý.  Điều này dường như là căn bản thiết yếu của Phật giáo,”  ông nói, “Và hành động của những người Phật tử từ ấy là tình yêu thương, từ bi và bất bạo động một cách chính xác là những gì tôi luôn luôn nghĩ Do Thái giáo là như thế và luôn luôn sẽ là như thế.”

__

COOPERATION AMONG WORLD RELIGIONS
Trích từ quyển ‘The Dalai Lama A Policy of Kindness’

Tuệ Uyển chuyển ngữ

31-05-2009