CUỘC ĐỜI CỦA TỔ SƯ LONG THỌ
Nguyên tác: Biography of Nagarjuna - Alexander Berzin
Tuệ Uyển chuyển ngữ
Long Thọ cùng với Vô Trước, là hai bậc khai phá vĩ đại của truyền thống Đại thừa. Long Thọ tiếp nối và trao truyền những giáo huấn thậm thâm vi diệu của tính không từ Văn Thù Sư Lợi, trong khi Vô Trước (cùng với Thiên Thân) truyền thừa những giáo nghĩa bao la của những sự thực hành bồ tát từ Di Lặc.
Long Thọ -
Nagajuna sinh ra trong một gia đình bà la môn chắc chắn khoảng giữa đầu hay đầu
thế kỷ thứ hai sau Tây lịch ở miền Nam Ấn Độ, trong vương quốc Vidarbha, ngày
nay là vùng Maharashatra và Andhra Pradesh. Ngài đã được tiên đoán trước trong
nhiều kinh điển khác nhau, như Kinh Lăng Già. Lúc sinh ra, một vị tiên tri dự đoán
ngài sẽ chỉ sống trong bảy ngày, nhưng nếu cha mẹ ngài cúng dường đến một trăm
vị sa môn, ngài có thể sống đến bảy tuổi. Lo sợ cho sự sống của ngài, vào lúc
bảy tuổi, cha mẹ Long Thọ-Nagajuna đưa ngài đến Đại học Tu viện Na Lan Đà ở
miền Bắc Ấn, nơi ngài gặp vị đạo sư Phật giáo Saraha. Saraha nói với ngài rằng
nếu trở thành một vị xuất gia và trì tụng mật ngôn A Di Đà, ngài sẽ sống trường
thọ. Long Thọ-Nagajuna làm như thế và rồi thì gia nhập tu viện, nhận một tên là
“Shrimanta.”
Tại Na Lan
Đà, Long Thọ-Nagajuna học kinh điển hiển giáo và mật điển tantra với Ratnamati
– một hóa thân của Văn Thù Sư Lợi – và, với Saraha, đặc biệt Tantra Bí Mật.
Thêm nữa, ngài học thuật giả kim với một vị Bà la môn, và đạt đến khả năng biến
sắt thành vàng. Dùng khả năng này, ngài có thể nuôi dưỡng những tu sĩ của Na
Lan Đà trong nạn đói. Cuối cùng, Long Thọ-Nagajuna trở thành Viện trưởng của Na
Lan Đà. Ở đấy, ngài đã tống xuất tám nghìn tu sĩ, những người không giữ gìn
giới luật xuất gia một cách thích đáng. Ngài cũng đánh bại năm trăm người không
phải Phật tử trong tranh luận.
Hai người
trai trẻ, là hóa thân của những đứa con của long vương, đến Na Lan Đà. Họ có
trong họ những hương thơm tự nhiên của trầm hương. Long Thọ-Nagajuna hỏi làm
thế nào như thế và họ thú nhận với ngài họ là ai. Long Thọ-Nagajuna rồi thì yêu
cầu tinh dầu trầm hương cho bức tượng của nữ Bồ Tát Tara và sự giúp đở của dòng
dõi rồng để dựng chùa chiền. Họ trở lại thế giới rồng và yêu cầu cha của họ, và
ông nói rằng ông chỉ có thể giúp nếu Long Thọ-Nagajuna đến thế giới của họ dưới
biển để giảng dạy cho họ. Long Thọ-Nagajuna đã đi, tiến hành nhiều lễ cúng
dường, và dạy cho loài rồng.
Long
Thọ-Nagajuna đã từng biết rằng loài rồng có bộ Kinh Một Trăm Nghìn Bài Kệ Bát
Nhã Ba La Mật Đa và thỉnh cầu cho một bản. Khi Đức Phật thuyết giảng về Kinh
Bát Nhã Ba La Mật Đa, tuệ trí toàn thiện, hay tỉnh thức phân biệt sâu xa, loài
rồng đã đem về long cung để bảo quản, chư thiên một bản khác, và những chúa dạ
xoa của thịnh vượng một bản nữa. Long Thọ-Nagajuna đem về bản một trăm nghìn
bài kệ, mặc dù long chúng giữ hai chương cuối cùng để bảo đảm rằng ngài sẽ trở
lại để giảng dạy cho họ xa hơn. Sau này, hai chương cuối cùng được bổ xung vào
với hai chương cuối cùng của Kinh Một Trăm Nghìn Bài Kệ Bát Nhã Ba La Mật Đa.
Đây là tại sao hai chương cuối cùng của hai văn kiện duyệt lại là giống nhau.
Long Thọ-Nagajuna cũng đem về đất sét của rồng và xây dựng nhiều chùa chiền và
tháp miếu với nó.
Một lần,
khi Long Thọ-Nagajuna đang giảng dạy Bát Nhã Ba La Mật Đa, sáu con rồng đã đến
và làm thành một bảo cái phía trên đầu ngài để che ngài khỏi nắng mặt trời. Do
bởi điều này, ngài có tên là Long-Naga. Và từ sự kiện khả năng thiện xảo của
ngài trong giảng dạy Phật Pháp đi thẳng tới trọng điểm của vấn đề, giống như
những mũi tên của nhà cung thủ nổi tiếng Arjuna (tên một anh hùng của Ấn Độ cổ
đại trong bộ kinh Ấn giáo Bhagavad Gita), ngài có tên là Arjuna. Vì thế, ngài
trở thành được gọi là “Nagarjuna” hay Long Thọ.
Sau này
Long Thọ đi lên miền Bắc Hải đảo (Bắc Lục địa) để giảng dạy. Trên đường, ngài
đã gặp một số trẻ con đang nô đùa trên đường. Ngài tiên tri rằng một đứa trong
chúng, tên là Jataka, sẽ trở thành một vị vua. Khi Long Thọ trở lại từ Bắc Hải
đảo, cậu bé trong thực tế đã trưởng thành và trở thành vị vua của một vương
quốc rộng lớn ở Nam Ấn. Long Thọ đã ở lại với vị vua trong ba năm, dạy dỗ ông,
và sau đó dành những năm cuối cùng ở những nơi khác trong vương quốc ấy, tại
Shri Parvata, ngọn núi thiêng liêng trông xuống ngày nay là Nagarjunakonda [1].
Long Thọ-Nagarjuna đã viết tác phẩm Quốc vương một Tràng Hoa Quý Báu – Bảo Hành
Vương Chính Luận (Ratnavati). Đây cũng là vị vua mà Long Thọ viết tác phẩm Lá
Thư Cho Một Người Bạn (Suhrllekha), vua tên là Udayibhadra.
Một số học
giả phương Tây xác quyết Vua Udayibhadra với Vua Gautamiputra Shatakarni (trị
vì 106- 130 sau Tây lịch) của triều đại Shatavahana (230 trước Tây lịch đến 199
sau Tây lịch), hiện nay là Andhra Pradesh. Một số xác quyết ông với vị vua kế
là Vashishtiputra Pulumayi (130 – 158 sau Tây lịch). Thật khó khăn để xác định
vị vua này một cách chính xác. Những vị vua triều đại Shatavahana là những
người bảo trợ bảo tháp ở Amaravati, nơi Đức Phật thuyết Mật điển Thời Luân
(Kalachakra Tantra) lần đầu tiên và nó gần Shri Parata.
Quốc vương
Udayibhadra có một người con trai, Kumara Shaktiman, người muốn trở thành vua.
Mẹ ông ta nói với ông rằng ông ta sẽ chẳng bao giờ có thể lên ngôi cho đến khi
Long Thọ chết, vì Long Thọ và Quốc vương Udayibhadra có cùng tuổi thọ. Mẹ ông
ta nói hãy thỉnh cầu Long Thọ cho thủ cấp của ngài và vì Long Thọ là người rất
bi mẫn, không nghi ngờ gì nữa ngài sẽ đồng ý ban cho ông. Long Thọ thật sự đã
đồng ý, nhưng Kumara không thể cắt đầu ngài với một thanh gươm. Long Thọ nói
rằng trong tiền kiếp, ngài đã từng giết hại một con kiến trong khi cắt cỏ. Như
một kết quả nghiệp báo, đầu của ngài chỉ có thể cắt rời với lá của của cỏ
kusha. Kumara làm như thế và Long Thọ lìa đời. Máu từ cái đầu bị cắt đứt biến
thành sửa và thủ cấp nói, “Bây giờ ta sẽ đi đến Cực Lạc Tịnh Độ, nhưng ta sẽ
nhập vào thân thể này lần nữa.” Kumara đưa thủ cấp xa khỏi thân thể, nhưng như
được kể lại rằng thủ cấp và thân thể đang đi đến gần lại với nhau mỗi năm. Khi
chúng hợp lại, Long Thọ sẽ trở lại và giảng dạy lần nữa. Nói chung, Long Thọ đã
sống sáu trăm năm.
Trong
nhiều tác phẩm trên chủ đề kinh điển mà Long Thọ đã viết là
- Tập Họp
Lý Luận, Collections of Reasoning - Nhập Trung Luận,
Madhyamakavata,
- Tập Họp Những Bài Kệ Tán, Collections of Praises.
- Tập Họp Những Giải Thích Mô Phạm, Collections of Explanations.
Madhyamakavata,
- Tập Họp Những Bài Kệ Tán, Collections of Praises.
- Tập Họp Những Giải Thích Mô Phạm, Collections of Explanations.
Sáu Tập
Họp của Lý Trí hay Nhập Trung Luận là:
- Những
Bài Kệ Căn Bản của Trung Quán Luận, Tỉnh Thức Phân Biệt
- Discriminating Awareness - Prajna-nama- mulamadhyamaka-karika.
- Discriminating Awareness - Prajna-nama- mulamadhyamaka-karika.
- Tràng
Hoa Quý Báu – Precious Galand – Ratnavati.
- Hồi Tránh Luận Thích – Bác Bỏ Chống Đối – Vigrahavyavarti.
- Thất Thập KhôngTính Luận – Bảy Mươi Bài kệ Tánh Không – Sunyatasaptati.
- Quãng Phá Kinh Danh – Vaidalya sutra nama.
- Lục Thập Tụng Như Ý Luận – Yuktishashtika.
- Hồi Tránh Luận Thích – Bác Bỏ Chống Đối – Vigrahavyavarti.
- Thất Thập KhôngTính Luận – Bảy Mươi Bài kệ Tánh Không – Sunyatasaptati.
- Quãng Phá Kinh Danh – Vaidalya sutra nama.
- Lục Thập Tụng Như Ý Luận – Yuktishashtika.
Bao gồm
Tán Dương Kệ Tập là:
- Pháp
Giới Tán – Dharmadhatu stava.
- Chân Đế tán – Paramartha stava.
- Siêu Thế Gian tán – Lokatita stava.
- Chân Đế tán – Paramartha stava.
- Siêu Thế Gian tán – Lokatita stava.
Bao gồm Mô
Phạm Thích Tập là:
- Giác Ngộ
Tâm Luận – Bodhicittavana.
- Tập Kinh Luận – Sutrasamuccaya.
- Lá Thư cho Một Người Bạn – Suhrllekha.
- Tập Kinh Luận – Sutrasamuccaya.
- Lá Thư cho Một Người Bạn – Suhrllekha.
Cũng được
cho là của Long Thọ là vài luận giải về mật điển Tantra Bí Mật, bao gồm:
- Phương
tiện Thực chứng giản lược – Pindikrta sadhana.
- Phương
pháp Thiền quán trên Tầng bậc Đầu tiên của Đại toàn thiện Bí mật tantra phối
hợp với nguyên văn của nó - Shri-guhyasamaja-mahayogatantra-utpattikrama-sadhana-sutra-
melapaka
- Năm Tầng
bậc (Tầng bậc Hoàn tất) – Pancakrama.
Đệ tử nổi
tiếng nhất của Long Thọ là Thánh Thiên (Aryadeva) tác giả của Bốn trăm Bài kệ
Luận thuyết trên những Hành vi của Du già Bồ tát và vài luận giải của Tantra Bí
mật.
[1]
Nagarjunakonda (skt): Địa danh Phật giáo ở vùng Nam Ấn Độ. Theo Giáo sư Bapat
trong Hai Ngàn Năm Trăm Năm Phật Giáo, người ta không được biết gì về ngôi tháp
lớn ở Nagarjunakonda hay đồi Nagarjunakonda cho đến khi tháp nầy được phát hiện
vào năm 1934. Tháp nằm trên mạn phía nam của sông Krishna trong quận Guntur.
Đây cũng là một đại tháp vì có cất giữ di hài của Đức Phật, và có lẽ được xây
vào thời vua A Dục. Tháp được tân tạo và xây cất bổ sung bởi Santisiri cùng các
mệnh phụ khác trong hoàng tộc. Những người nầy được xem là đã có công giúp cho
Phật giáo phát triển tại Andhra trong thế kỷ thứ 3. Tháp nầy ngày nay tuy đã đổ
nát nhưng trông còn đồ sộ hơn tháp ở Amaravati. Hàng trăm công trình điêu khắc
thực hiện theo phong cách Amaravati đã được tìm thấy tại đây. Qua các dòng chữ
khắc trên các cây trụ Ayaga, người ta thấy rõ rằng Nagarjunakonda, thành phố cổ
của Vijayapuri, có tầm quan trọng to lớn của một trung tâm Phật giáo đã có danh
tiếng quốc tế. Nhiều tu viện đã được xây cất tại nơi nầy để làm nơi trú ngụ cho
tu sĩ Phật giáo thuộc các tông phái khác từ nhiều nướcđến như Tích Lan,
Kashmir, Gandhara, Trung Hoa, vân vân. Người dân Andhra giao thương với cả
trong nước và nước ngoài, họ đã có sự tiếp xúc sâu xa với xã hội La Mã thời ấy.
Điều nầy được chứng minh qua sự phát hiện những bản khắc và công trình điêu
khắc mô tả một chàng lính râu ria mặc áo chẽn, quần tây, và nhiều vật dụng khác
có nguồn gốc từ La Mã. Tại Andhra, các nơi như Guntapali, cách ga xe lửa Ellore
chừng 28 dặm, và Sankaram, cách Anakapalli một dặm về phía Đông, là những địa
điểm nổi tiếng vì các công trình kiến trúc trong đá. Các địa điểm khác trong
vùng lân cận cũng được xem là có tầm quan trọng trong thời đại của Phật giáo,
điều nầy được xác nhận qua sự hiện diện của các ngôi tháp cùng các di tích cổ
tại đây. Các địa điểm đáng chú ý nhất trong số nầy là Goli, Chezarta, Gummatia,
Bezwada, Garikapadu, Uraiyur, Kuvain, Chinve và Vidyadharpur. (Từ điển Phật học
Thiện Phúc)
Biography of Nagarjuna
Alexander Berzin
February 2006
Tuệ Uyển chuyển ngữ
08-03-2010
http://www.berzinarchives.com/web/en/archives/°
Alexander Berzin
February 2006
Tuệ Uyển chuyển ngữ
08-03-2010
http://www.berzinarchives.com/web/en/archives/°
No comments:
Post a Comment