Friday, April 10, 2015

TÁC Ý, KÝ ỨC VÀ TÂM THỨC


MỘT KHÁI QUÁT VỀ NHỮNG NHẬN THỨC  
TÂM LÝ, THẦN KINH VÀ TƯ DUY VỚI ĐỨC DALAI LAMA 
Đức Đạt Lai Lạt Ma - Tuệ Uyển chuyển ngữ 
-- 
  
Dharamsala, India • April 6–10, 2009 
 
The Mind and Life Dialogues and the Mind and Life Institute 
  
Mở màn thế kỷ hai mươi, khoa học đã bắt đầu kiểu mẫu thay thế có ảnh hưởng lớn cho sự hiểu biết thế giới tự nhiên bằng phương pháp khách quan, đo lường định lượng, dùng những khí cụ  của khoa học. Sự hợp thành một hệ thống thống nhất của kiến thức khoa học và kỷ thuật cống hiến rộng rãi đến sự hiểu biết của chúng ta về thế giới vật lý và để phát triển sự bảo đảm cho đời sống của con người.  Xa hơn nữa, qua thời gian trải dài hơn 2.500 năm qua, Phật giáo đã biểu  lộ trong những nền văn hóa đa dạng xuyên qua Á châu như kiểu mẫu có ảnh hưởng lớn cho sự hiểu biết thế giới tự nhiên bằng những phương pháp quán sát khách quan, định lượng bằng sự rèn luyện thiền quán tinh vi cao độ.  Sự hợp thành một hệ thống thống nhất của giáo thuyết đạo Phật và sự thực hành đã mở ra nhiều sự hiểu biết sâu sắc trong tính tự nhiên của tâm thức và vai trò của nó trong tự nhiên, trong sự chuyển hóa tận gốc rể và việc làm phong phú những những điều nó phục vụ xã hội và làm tăng tiến phẩm chất đời sống về sự hội nhập của nó.  Trong nhiều phương thức, những phương pháp và mục tiêu của khoa học và sự thẩm tra tư duy là sâu sắc đầy đủ, với mỗi thứ của chúng có khả năng bao la để sự làm phong phú cho những  thứ kia. 
  
Năm 1987, nhận thức rằng không có phương cách thứ lớp chính thức cho khoa học và Phật học chia sẻ sự tìm tòi của chúng, và tin chắc rằng một sự đối thoại và hợp tác khoa học nghiêm chỉnh giữa hai truyền thống ấn tượng này sẽ lợi ích cho nhân loại, nhà thần kinh học Francisco Varela và thông dịch viên Adam Engle bắt đầu những cuộc Đối thoại về Tâm thức và Đời sống với Đức Dalai Lama.  Kể từ lúc ấy, những hội nghị Tâm thức và Đời sống đã tập trung vào một loạt những chủ đề rộng rãi xếp loại từ tâm thức khoa học và sinh vật học đến vật lý học và vũ trụ học.  Cuộc gặp gở hiện nay này là tập trung trên tác ý, ký ức, và nghiên cứu hiện tượng của tâm thức là trọng tâm của cuộc đối thoại lần thứ mười tám về Tâm thức và Đời sống. 
  
Điều làm nên sự khác biệt giữa Đối thoại của Tâm thức và Đời sống và những cuộc hội họp khác  giữa khoa học và Phật giáo là sự tập trung trên sự đối thoại chiều sâu , xuyên văn hóa.  Trong cuộc gặp gở này, những tham luận buổi sáng do những nhà tri thức khoa học sẽ kéo dài 60 phút, tiếp theo là 90 phút thảo luận; và phiên họp buổi chiều do những nhà tri thức khoa học cùng học giả và tu sĩ Phật giáo sẽ kéo dài từ 30 đến 45 phút, với thời gian giải lao 2 tiếng rưỡi  cho thảo luận.  Những thảo luận này sẽ luôn luôn đặt trọng tâm tập trung của mỗi cuộc gặp gở Tâm thức và Đời sống, và trong cuộc hội nghị này chúng sẽ đóng một vai trò vượt trội hơn bao giờ hết. 
  
Thêm nữa cho những cuộc Đối thoại và việc công bố về Tâm thức và Đời sống, học viện Tâm thức và Đời sống có hai chương trình khác để  hổ trợ cho nhiệm vụ của chúng tôi.  Một chương trình làm quen học hỏi nghiên cứu hợp tác giữa những nhà khoa học và tu sĩ, tập trung trên việc xác định những tác động của thiền quán và những sự thực hành tư duy khác.  Để xác định thời gian, những nghiên cứu như thế bắt đầu tại: the University of Wisconsin; UCSF Medical Center; Princeton; Harvard; UC Berkeley; Reed College; Pennsylvania State University; và University of Pennsylvania. 
Một chương trình khác được diễn ra để đẩy mạnh nghiên cứu mới nảy ra trong lãnh vực này là Học viện Nghiên cứu Tâm thức và Đời sống Mùa hè, điều này sẽ xảy mỗi năm một tuần hội họp một cách đặc biệt cho những khoa học gia và học giả trẻ tuổi có sự hấp dẫn trong lĩnh vực này.  Học viện Nghiên cứu này sẽ phối hợp những tham luận khoa học và Phật học, thảo luận chiều sâu trên vấn đề làm thế nào phát triển nâng cao sự gặp gở giữa khoa học và những kiểu mẫu tư duy tĩnh lự của của sự thẩm tra và thực hành thiền quán. 
  
KHÁI QUÁT 
  
Chủ đề của hội nghị Tâm thức và Đời sống XVIII là tác ý, ký ức, và tâm thức con người lưu tâm từ quan điểm nhận thức thuộc về hiện tượng (bao gồm tư duy), tâm lý, và thần kinh.  Trong sự liên hệ giữa tác ý, ký ức, và tâm thức là một lĩnh vực làm say mê các nhà nghiên cứu trong khoa học tâm lý và thần kinh học.  Nó cũng đặc biệt hấp dẫn khi khảo sát trong Phật học, bởi vì nó xuyên qua sự tư duy tĩnh lự tinh tế và tĩnh thức một khi đã khám phá những đặc điểm để phân biệt, tính nguyên sơ, và những khả năng về sự tỉnh thức của con người, của khổ đau, và của hạnh phúc chân thật.  Tóm lại, sự rèn luyện tĩnh lự tư duy được biết như “chỉ” (shamatha-thiền chỉ-thiền định) để đáp ứng với sự phát triển và sự tinh tế của tác ý và điều này là cơ sở cho “quán” (vipashyana- thiền quán- tuệ minh sát), là những phương thức theo thứ tự cho kinh nghiệm khám phá tính tự nhiên của tâm thức và sự liên hệ của nó đến thế giới bao la. 
  
Xa hơn nữa, kéo dài tác ý tự nguyện (định-samadhi) thì liên hệ một cách gần gũi với ký ức (nghĩ nhớ), bởi vì nhằm mục tiêu có chủ tâm (suy nghĩ kỷ) kéo dài sự tác ý của một người trên một đối tượng lựa chọn, người ấy phải tiếp tục nhớ nghĩ để làm như thế từ thời khắc này đến thời khắc tiếp theo, chính xác trung thực trở lại để tài tập trung trên đối tượng ấy bất cứ khi nào tâm thức lang thang khỏi nó. Giống như thế, trong Phật giáo, năng lực của “chính niệm” (smrti) liên hệ không chỉ tỉnh thức từ thời khắc này đến thời khắc tiếp theo của những sự kiện hiện diện.  Thay vì thế, nghĩa rộng chính yếu của Phạn ngữ này (Pali là “sati”) là ký ức, hồi ức.  Điều này bao gồm tỉnh thức lâu dài, ngắn hạn, và ký ức hoạt động, không quên, đặt trọng tâm hiện tại, và cũng là ký ức về sau, đấy là, nhớ  tức là tỉnh thức về điều gì ấy hay làm việc gì đấy tại một thời điểm định rõ trong tương lai.  Trong những phương cách này, từ một nhận thức tư duy tĩnh lự, ký ức là sự kết nối quan trọng đến tác ý, và cả hai khả năng tinh thần này có những sự phân nhánh cho nghiên cứu về kinh nghiêm và hiện tượng về tâm thức, sự rèn luyện của nó, và khả năng lạc quan. 
  
Những thảo luận quanh hội nghị Tâm thức và Đời sống XVIII sẽ tập trung chủ yếu trên hiện tượng học chủ quan, sự hoạt động của tiến trình thông tin, và thuyết cơ giới thần kinh của tác ý, ký ức và tỉnh thức cảm quan từ cả quan điểm khoa học và Phật học.  Nhiệt tâm kỳ vọng rằng những người tham dự trong những cuộc đối thoại này, đến từ những khuynh hướng đa dạng khác nhau của triết học, tâm lý học, thần kinh học, và các học giả cùng hành giả Phật giáo sẽ hành động đặc biệt hướng đến sự hiểu biết và phối hợp trong phạm vi rộng rãi của những ý tưởng của những người khác và những quan điểm về những chủ đề của cuộc gặp gở này.  Đặc biệt  chú tâm sẽ được tập trung trên những đặc điểm phân biệt và sự tác động lẫn nhau của tác ý, ký ức và siêu nhận thức như được thấy từ những quan điểm khác nhau, bao gồm sự khả dĩ của những chiều kích của tỉnh thức (không giới hạn sự thảo luận đến những đặc điểm tương tự của những tâm thức thấy rõ (thô) và vi tế, và sự liên hệ giữa toàn bộ hình ảnh của tiến trình thông tin của con người, tĩnh thức, và thế giới kinh nghiệm của đời sống (Lebenswelt) như một tổng thể.  Chúng tôi tiên đoán rằng sự khám phá này sẽ dẫn đến sơ đồ hệ thống xa hơn cho sự khám phá mới nghiên cứu về kinh nghiêm và lý thuyết trên việc thực hành thiền quán và tư duy tĩnh lự tại điểm gặp gở giữa khoa học và Phật học.  Những người tham dự sẽ được chuẩn bị để hành động ảnh hưởng hợp tác qua lại đối với việc phát triển một chương trình nghiên cứu hấp dẫn như thế. 
  
NHỮNG NGƯỜI THAM DỰ 
  
Tenzin Gyatso, His Holiness, the XIV Dalai Lama  
David E. Meyer, Ph.D., Professor of Psychology, University of Michigan  
B. Alan Wallace, Ph.D., President, Santa Barbara Institute for Consciousness Studies  
Anne Treisman, Ph.D., Professor of Psychology, Princeton University  
Rupert Gethin, Ph.D., Director of the Centre for Buddhist Studies, University of Bristol, UK  
Adele Diamond, Ph.D., Professor of Developmental Cognitive Neuroscience, University of British Columbia, Vancouver, BC, Canada  
Amishi Jha, Ph.D., Assistant Professor of Psychology, University of Pennsylvania  
Clifford Saron, Ph.D., Assistant Research Scientist, Center for Mind and Brain, UC Davis  
Elizabeth Phelps, Ph.D., Professor of Psychology, New York University  
Shaun Gallagher, Ph.D., Professor of Philosophy and Cognitive Science, University of Central Florida 
  
THÔNG DỊCH VIÊN  

Geshe Thupten Jinpa, Ph.D., President of the Institute of Tibetan Classics in Montreal  
B. Alan Wallace, Ph.D., President of the Santa Barbara Institute for Consciousness Studies  
__ 
Mind and Life XVIII 
Attention, Memory and the Mind: 
A Synergy of Psychological, Neuroscientific, and Contemplative Perspectives 
with His Holiness The Dalai Lama 

ĐỨC ĐẠT LAI LẠT MA THỨ 14 VÀ TÂY TẠNG


Tuệ Uyển 
dalai lama 14

Đức Đạt Lai Lạt Ma thứ 14 của Tây Tạng là một trong những Đạo sư Phật Giáo vĩ đại của thế giới hiện tại, và có thể là nổi tiếng nhất trong lịch sử Phật Giáo với tầm ảnh hưởng khắp địa cầu của các ngài.  Thiền sư Nhất Hạnh đã được Mục sư Luther King đề cử giải Nobel Hòa Bình vào năm 1964, còn Đức Đạt Lai Lạt Ma đã đoạt giải Nobel Hòa Bình vào năm 1989.

Đức Đạt Lai Lạt Ma tên thật là Lhamo Dhondup như chính ngài nói: “Tôi đã sinh ra trong một ngôi làng nhỏ gọi là Taktser, ở miền Đông Bắc[1] của Tây Tạng, vào ngày năm tháng năm, năm Lợn Gỗ của lịch Tây Tạng – thế đấy, dương lịch là [ngày 6 tháng Bảy] năm 1935.” [2]  Vào khoảng ba tuổi ngài được công nhận là hậu thân của Đức Đạt Lai Lạt Ma thứ 13, hóa thân của Quán Thế Âm, Đức Phật từ bi; và sau đấy được đặt tên là Jetsun Jamphel Ngawang Lobsang Yeshe Tenzin Gyatso. Tháng Hai năm 1940, ngài chính thức đăng quang tại Điện Potala trước sự tham dự của đông đảo Tăng chúng và các sứ thần của các quốc gia lân cận kể cả Ấn Độ và Trung Hoa Dân Quốc bình đẳng cùng với những quốc gia khác trong hàng khách danh dự, như  một bằng chứng cho việc chọn lựa và đăng quang của Đức Đạt Lai Lạt Ma thứ 14 do chính phủ Tây Tạng độc lập hoàn toàn đảm nhiệm[3].

Vào năm 1949, sau khi lật đổ chính phủ Trung Hoa Dân Quốc của Tưởng Giới Thạch và hoàn toàn làm chủ Hoa Lục, lúc Đức Đạt Lai Lạt Ma thứ 14 mới mười lăm tuổi, đến lượt Tây Tạng bị Hồng Quân Trung Cộng tấn công, trước tình hình nguy ngập ấy, dù ở tuổi vị thành niên nhưng Đức Đạt Lai Lạt Ma đã được giao toàn quyền chấp chánh mà thông thường phải đến tuổi thành niên mới nhận lãnh trách vụ này.

Các Đức Đạt Lai Lạt Ma thứ nhất, thứ hai, thứ ba và thứ tư không tham gia trong sinh hoạt chính trị.   Chỉ bắt đầu từ Đức Đạt Lai Lạt Ma thứ năm ngài mới bắt đầu đảm trách ngôi vị Nguyên thủ quốc gia Tây Tạng.  Tuy vậy, mới năm trước (2011)  Đức Đạt Lai Lạt Ma thứ 14 đã ký một văn kiện bổ sung trong hiến pháp Tây Tạng quy định rằng từ nay trở đi các vị Đạt Lai Lạt Ma không đảm nhiệm vị trí lãnh đạo thế quyền của Tây Tạng nữa và cũng từ đấy ngài từ chối những nghi thức của lãnh tụ quốc gia.
tibet map

Tây Tạng ngày xưa thường được biết với tên Thổ Phồn, ở Tây Nam Trung Hoa hay Đông Bắc Ấn Độ.  Đất nước này nằm trên một vùng đất được gọi là "nóc nhà thế giới", từng lan rộng đến các vùng ngày này còn nhiều người Tây Tạng cư trú là Thanh Hải, Cam Túc, Tứ Xuyên và Vân Nam.  Thổ Phồn có lúc rất hùng mạnh từng đánh và chiếm kinh đô Trường An của Đại Đường Trung Hoa.   Sau đấy hai bên đã ký một hòa ước hiện còn ghi lại trên cột đá chùa Jokhang (Đại Chiêu Tự):  “người dân Tây Tạng sẽ sống một cách hạnh phúc trong lãnh thổ vĩ đại Tây Tạng, và người dân Trung Hoa sẽ sống một cách hạnh phúc trong vùng đất rộng lớn của Trung Hoa.[4]” Kể từ đấy về sau trong quan hệ Hoa - Tạng hầu như không có cuộc xung đột lẫn nhau nào đáng kể.

Nhưng khi quân Mông Cổ xâm lăng và đánh bại Đại Tống Trung Hoa, đội quân này đem quân chinh phục Đại Lý (Nam Chiếu tức là Vân Nam ngày nay) và từ đấy đổ quân vào tấn công và đánh bại quân đội Tây Tạng.  Phải nói đây là lần đầu tiên Tây Tạng và Trung Hoa cùng nằm trong một quốc giới của Đại Nguyên và họ cùng xem là như là bị thống trị bởi ngoại nhân (Việt Nam may mắn dưới sự lãnh đạo của các vua Trần Thái Tông, Trần Nhân Tông, và danh tướng Trần Hưng Đạo đã ba lần đánh thắng quân Mông Cổ, [1257-58, 1284-85, 1287-88,]  nên không rơi vào tình trạng mất nước như Đại Lý sau này).  Tuy nhiên những người thống trị Mông Cổ được các Đạo sư Tây Tạng chinh phục và trở thành những Phật tử theo truyền thống Tây Tạng cho đến ngày nay.  Khi Chu Nguyên Chương khởi binh chống lại sự thống trị của người Mông Cổ với khẩu hiệu "Phản Mông Phục Hán" và sau đó đã lật đổ được triều đình Đại Nguyên và thành lập triều Đại Minh (1368), người Mông Cổ lui về vùng sa mạc, nhưng vẫn giữ quốc hiệu là Đại Nguyên.  Đến lúc này cả Mông Cổ và Tây Tạng không nằm trong quốc giới của Đại Minh.  Đến khi người Mãn Châu xâm lấn Trung Hoa và lật đổ triều đình Đại Minh và thành lập triều Đại Thanh, một lần nữa Trung Hoa của người Hán và Tây Tạng lại cùng rơi vào ách thống trị của ngoại nhân là người Mãn Châu và cả người Mông Cổ cũng nằm trong quốc giới Đại Thanh thật sự chấm dứt quốc hiệu Đại Nguyên (Việt Nam may mắn có vua Quang Trung nên không rơi vào ách thống trị của người Mãn Thanh).  Tuy nhiên triều đình Đại Thanh cũng lại là những người theo Đạo Phật Tây Tạng.  Đến khi Tôn Trung Sơn lãnh đạo cách mạng nổi dậy lật đổ sự thống trị của người Mãn Châu với khẩu hiệu "Đánh Đổ Mãn Thanh Khôi Phục Trung Hoa" và thành công với Cách Mạng Tân Hợi năm 1911.  Cùng năm ấy Mông Cổ tuyên bố độc lập tuy sau đấy bị chính quyền Trung Hoa Dân Quốc chiếm đóng trở lại năm 1919, nhưng đến năm 1921 dưới sự hổ trợ của Liên Sô, người Mông Cổ làm cách mạng Cộng Sản và tuyên bố độc lập một lần nữa dưới sự hổ trợ của Liên Bang Sô Viết và thành lập nước Cộng Hòa Nhân Dân Mông Cổ và tồn tại như một nước độc lập cho đến ngày nay.

Về phần Tây Tạng, ""Theo sau cách mạng Tân Hợi ở Trung Quốc, quân du kích địa phương người Tibet mở một cuộc tập kích bất ngờ vào đồn lính Trung Quốc đóng tại Tibet. Sau đó quan chức Trung Quốc ở Lhasa buộc phải kí kết "Hiệp định 3 điểm" chấp nhận đầu hàng và rút đi lực lượng đóng tại miền trung Tibet. Đầu năm 1913, vị Dalai Lama quay trở lại Lhasa và ra một bản tuyên cáo phát tán đi toàn cõi Tibet lên án "Ý định xâm chiếm Tibet làm thuộc địa dưới quan hệ nhà bảo trợ - thầy tu", và tuyên bố rằng, "Chúng ta là một nước nhỏ, độc lập, phụng sự tôn giáo."  Tibet và Mông Cổ ký kết một hiệp định vào năm 1913 công nhận độc lập lẫn nhau.[5]"  Như vậy cho đến cuộc Cách Mạng Tân Hợi 1911, người Tây Tạng tuy có lần bị sáp nhập và đế quốc Đại Nguyên và Đại Thanh chịu sự cai trị người Mông Cổ và người Mãn Châu nhưng chưa bao giờ bị sự thống trị của người Hán (cũng là một điều may mắn hơn người Việt Nam chúng ta với hơn ngàn năm Bắc Thuộc).

"Tibet thiết lập Văn phòng Ngoại giao năm 1942 và năm 1946 họ gửi những phái đoàn chúc mừng đến Trung Quốc và Ấn Độ (nhân dịp Thế chiến thứ 2 kết thúc). Phái đoàn đến Trung Quốc mang theo một lá thư gửi đến Tổng thống Tưởng Giới Thạch (Chiang Kai-sek) nói rằng, "Chúng tôi sẽ tiếp tục duy trì nền độc lập của Tibet như là một quốc gia cai quản bởi các vị Dalai Lama nối tiếp nhau thông qua một hệ thống chính trị-tôn giáo thực sự." Phái đoàn đồng ý tham dự một phiên họp Quốc hội Trung Quốc ở Nanjing như là quan sát viên."[6]

Tuy nhiên sau khi lật đổ chính quyền Quốc Dân Đảng thì hàng trăm ngàn Hồng Quân Trung Cộng rầm rộ tiến vào Tây Tạng, trong khi quân đội Tây Tạng chỉ có mười mấy ngàn người với vũ khí thô sơ nên nhanh chóng bị đè bẹp.  Sau đó hai bên đã ký kết Thỏa Ước 17 điểm thừa nhận Tây Tạng là một phần lãnh thổ của Cộng Hòa Nhân Dân Trung Hoa. Nhưng khi đào thoát khỏi Tây Tạng thì Đức Đạt Lai Lạt Ma và chính phủ lưu vong sau khi tham khảo với những luật gia quốc tế đã tuyên bố rằng thỏa ước 17 điểm không còn giá trị vì chính quyền Bắc Kinh đã không thi hành nghiêm chỉnh.  Hơn nữa Đức Đạt Lai Lạt Ma cũng nói rằng phái đoàn đại diện của Đức Đạt Lai Lạt Ma đã bị thúc ép để ký thỏa ước ấy, nhưng vị trưởng đoàn đã không dùng con dấu ông đem theo từ Tây Tạng để đóng vào văn kiện mà dùng con dấu do chính quyền Bắc Kinh làm ra. Phải nói rằng so với Mông Cổ thì Tây Tạng kém may mắn hơn vì không có một cường quốc nào hổ trợ cho nền độc lập của mình như Liên Sô đã hổ trợ cho Mông Cổ.

tibet map 2

Đức Đat Lai Lạt Ma thứ 14 đã đến Bắc Kinh vào năm 1954 và ở đấy khoảng nửa năm và tỏ ra rất lạc quan với hoàn cảnh ở đấy. Từ những năm 1952, ngài nói rằng chính phủ Tây Tạng đã thành lập một Hội Đồng Cải Cách hệ thống thuế vụ và cho vay.  Như vậy chúng ta có thể thấy rằng trong khoảng thời gian này tuy ở trong nước Cộng Hòa Nhân Dân Trung Hoa nhưng chính quyền tự trị Tây Tạng vẫn có một số quyền hành trong khu tự trị. Nhưng theo ngài, thì từ những năm 1956-57 trở đi tình hình trở nên khắc nghiệt hơn, những cuộc cải cách dân chủ kiểu Mao mà theo như ngài không thích hợp với hoàn cảnh ở Tây Tạng.  Và nó đã đi đến mức độ người Tây Tạng không thể chịu đựng được nữa và tổ chức phản kháng đòi Quân Đội Trung Quốc rút đi.  Tư lệnh quân Trung Cộng ở thủ đô Lhasa mời Đức Đạt Lai Lạt Ma đến doanh trại của họ nhưng người Tây Tạng tuần hành chung quanh Cung điện Mùa hè của Đạt Lai Lạt Ma là Norburlingka kêu gọi ngài không nên đi đến doanh trại quân chiếm đóng.  Cuối cùng ngài đã quyết định bí mật rời khỏi Norburlingka và xin tị nạn ở Ấn Độ, và chỉ không lâu ngay sau đó, Norburlingka đã bị đạn pháo quân chiếm đóng san thành bình địa vì tưởng chủ nhân của tòa điện vẫn còn bên trong.

Những năm đầu, ngài và chính phủ Tây Tạng chủ trương độc lập, nhưng sau này ngài chủ trương con đường trung đạo, vận động đòi hỏi cho Tây Tạng được tự trị đầy đủ ý nghĩa, những điều đã được quy định trong hiến pháp nước Cộng Hòa Nhân Dân Trung Hoa  nhưng không được thi hành.  Song song với việc đòi hỏi một nền tự trị đầy đủ ý nghĩa cho Tây Tạng là một cuộc đấu tranh bất bạo động, một chủ trương mà cả những người thân cận nhất như anh em của ngài không tin sẽ thành công, tuy thế ngài đã tuyên bố rằng ngài sẽ duy trì chủ trương đấu tranh bất bạo động vì một nền tự trị đầy đủ ý nghĩa của Tây Tạng cho đến hết cuộc đời của ngài.  Đức Đạt Lai Lạt Ma cũng đã thăm những vùng tự trị ở Bắc Ý Đại Lợi[7] và những lãnh đạo nơi này cũng ra lời kêu gọi chính phủ Bắc Kinh hãy đáp ứng đề nghị và đối thoại của Đức Đạt Lai Lạt Ma. Những đề nghị của Đức Đạt Lai Lạt Ma về khu tự trị Tây Tạng đã được nêu lên trong lời phát biểu và diễn thuyết khi nhận giải Nobel hòa bình là " Năm Điểm cho việc khôi phục hòa bình và nhân quyền ở Tây Tạng.  Điều này bao gồm việc biến toàn bộ cao nguyên Tây Tạng thành một Khu vực Ahimsa, bất bạo động, một nơi tôn nghiêm của hòa bình và bất bạo động nơi con người và thiên nhiên có thể sống trong sự an bình và hòa hiệp". 5 điểm đó là:

1-   Biến toàn thể Tây Tạng, kể cả những tỉnh miền đông, Kham và Amdo, thành một vùng bất bạo động (Ahimsa).
2-   Từ bỏ chính sách di chuyển dân cư của Trung Hoa.
3-   Tôn trọng những quyền căn bản và sự tự do dân chủ của người Tây Tạng.
4-   Tái lập và bảo vệ môi trường thiên nhiên của Tây Tạng.
5-   Khởi động thương thảo nghiêm chỉnh về vị thế tương lai của Tây Tạng và về quan hệ giữa người Tây Tạng và người Hán.

Ngay cả ở Trung Hoa hình ảnh kiểu mẫu của những khu tự trị như Hồng Công và Macau mà chính quyền Bắc Kinh rất muốn chính phủ Đài Loan chấp nhận, một quốc gia hai chế độ, nhưng chính phủ Đài Bắc đã kiên quyết cự tuyệt.

Ngoài việc là một nhà lãnh đạo chính phủ Tây Tạng, Đức Đạt Lai Lạt Ma còn là một Đạo sư Phật Giáo, mà tuệ trí và lòng từ bi của ngài đã lan tỏa vô cùng sâu rộng trong các tầng lớp Phật tử.  Không những  vậy, thế giới khoa học cũng vô cùng khâm phục và hợp tác nghiên cứu cùng ngài trong những lĩnh vực tâm thức.

Sự thành công của Đức Đạt Lai Lạt Ma như một bậc Đạo sư là sự thành công của Đạo Phật.  Nhà văn Nguyễn Tường Bách khi thăm Tây Tạng về đã nói rằng sự suy vong của Phật Giáo Tây Tạng sẽ là sự suy vong của Đạo Phật trên thế giới nói chung. Và là sự thất bại của Đại Thừa Phật Giáo Bồ tát đạo nói riêng. Việc này có đúng hay không thì chưa biết, nhưng hiện nay các trường phái chính của Phật Giáo Tây Tạng đã có những cơ sở vững vàng tại Ấn Độ cũng như các vị lãnh đạo của các tông phái này cũng đều ở Ấn Độ. Tuy nhiên, sự thất bại về công cuộc đấu tranh bất bạo động cho một nền tự trị đầy đủ ý nghĩa của Tây Tạng sẽ là một nguy cơ cho những quốc gia bé nhỏ chung quanh một nước khổng lồ mà sức  mạnh ngày càng gia tăng như một vị bộ trưởng quốc phòng Mỹ là Leon Penatta đã từng nói (Power raised in Asia).  Và giáo sư Colin Blakemore nói đến hội nghị Copenhagen về môi trườngthế giới: "đấy là một sức mạnh mới đang hành động trong chính trường quốc tế." Từ năm 1949, không một biên giới của một nước nào với Cộng Hòa Nhân Dân Trung Hoa lại không bị  phiền toái.  Cuộc chiến tranh biên giới với Việt Nam năm 1979, suy cho cùng không gì khác hơn là để vẽ lại biên giới Hoa -  Việt, mà người ta nói hoa mỹ là "để dạy cho Việt Nam một bài học". Bây giờ thì những kẻ cầm quyền của chế độ Khơ me đỏ đã ra tòa án quốc tế về tội diệt chủng, thì bài học cho những kẻ tay sai ấy cũng đã rõ.  Hơn thế nữa trong mấy năm gần đây không một nước nào có vùng biển chung với Trung Hoa từ Nhật Bản, Hàn Quốc, đến Việt Nam, Phi Luật Tân và các nước Đông Nam Á đều có rắc rối với chính phủ Bắc Kinh.  Từ những hoàn cảnh như vậy, sự đấu tranh bất bạo động là có liên quan mật thiết với các nước đang gặp rắc rối với thái độ của Bắc Kinh.

"Khi được hỏi về vai trò của ngài trong đời sống, Đức Đạt Lai Lạt Ma thường liên hệ chính ngài như một "thầy tu giản dị".  Nhiều người khác xem ngài là một trong những lãnh tụ tâm linh nổi tiếng nhất của thời đại chúng ta và một trong những học giả và đạo sư Phật Giáo hàng đầu của thế giới.  Trong phạm vi những cuộc du hành rộng rãi,  ngài cũng nói cũng biện hộ cho chí nguyện của ngài trong đời sống.  Thứ nhất, ngài nguyện cố gắng để thúc đẩy cho những giá trị căn bản của con người, hay những gì ngài thường liên hệ như những "đạo đức thế tục".  Thứ hai, ngài nguyện thúc đẩy hòa hiệp và thông hiểu trong những truyền thống tôn giáo quan trọng của thế giới.  Và thứ ba, ngài nguyện đối với "vấn đề Tây Tạng", dâng  hiến đến những lợi ích của đồng bào Tây Tạng, hành động như một phát ngôn viên trong sự đấu tranh của họ vì nhân quyền, sự tự trị, và tự do rộng rãi hơn.  Bất cứ nơi nào ngài đến, Đức Đạt Lai Lạt Ma, ngài đã biểu hiện một sự cởi mở chân thành đến thính chúng cho lòng ân cần từ tế, từ bi, bao dung và trách nhiệm phổ quát."[8]

Chúng ta cầu mong sự đấu tranh bất bạo động của Đức Đạt Lai Lạt Ma vì sự tự trị đầy đủ ý nghĩa của Tây Tạng được thành công, và đấy sẽ là góp phần vĩ đại cho một thế giới hòa binh, như Đức Đạt Lai Lạt Ma đã nói vì tôi đã lãnh giải Nobel hòa bình nên tôi có bổn phận phải hành động vì hòa bình của thế giới.

Đời sống của ngài như một minh chứng về những đặc trưng mà mọi người đã nghĩ về ngài và dâng tặng đến ngài, cũng như những chủ trương mà ngài đang theo đuổi, qua các phần thưởng:

Đức Đạt Lai Lạt Ma và Huân Chương Vàng Quốc Hội Hoa Kỳ.

Đức Đạt Lai Lạt Ma thường trích dẫn Đại sư Tịch Thiên câu: "Nếu có giải pháp thì không có gì phải lo lắng. Nhưng nếu không có giải pháp thì lo lắng cũng không ích gì". Nói thế chứ là người bình thường không có công phu tu tập, không có trình độ thực chứng nào đó về tâm linh thì cũng không dễ mà không lo lắng. Đức Đạt Lai Lạt Ma nói rằng khi nghe kể về những nổi khổ của người Tây Tạng ở quê hương Tuyết Sơn thì ngài đôi khi rơi lệ và rất đau buồn, nhưng ngay lúc ấy ngài liền lạc quan trở lại và như ngài nói trong lời kết luận giảng luận về Thái Độ Rèn Luyện Như Tia Sáng rằng: " Chúng ta bây giờ kết luận sự truyền trao giáo huấn Thái Độ Rèn Luyện Như Tia Sáng. Đây là điều gì đấy rất lợi lạc cho tâm thức, một luận điển về những phương pháp mà nó sẽ dẫn chúng ta trở thành cực kỳ hạnh phúc. Tôi thường cảm nhận và nói với mọi người rằng tôi phải là người hạnh phúc nhất trên thế giới. Phân nửa qua vị trí của Đạt Lai Lạt Ma mà tôi có và chắc chắn rằng phân nửa khác qua thái độ rèn luyện mà tôi đã tu tập, là điều cho tôi niềm hạnh phúc và nghị lực để đối diện với tất cả những hoàn cảnh khó khăn mà tôi đã gánh nặng trên đôi vai tôi. Những lượng định ngăn ngừa về giáo Pháp là những tiêu chuẩn mà chúng ta thật sự tiếp nhận, mà chúng ta thực tập. Tất cả chúng ta làm tốt để dâng hiến mọi nổ  lực của chúng ta cho điều  này."


Xin cầu nguyện cho nền hòa bình của thế giới và sự trường thọ của Đức Đạt Lai Lạt Ma.
Nam mô A Di Đà Phật

Tuệ Uyển

Ẩn Tâm Lộ Thursday, April 02, 2015



[1] Tỉnh Amdo nay là tỉnh Thanh Hải của Trung Hoa.
[2] Theo bài "Tay Trong Tay Với Đức Đạt Lai Lạt Ma" của Perry Garfinkel.
[4] Xem Phát biểu nhận giải Nobel
[6] giống như phần phụ giải 4
[8] Trích từ lời giới thiệu về Đức Đạt Lai Lạt Ma trong quyển "Nghệ thuật hạnh phúc trong thế giới phiền não" mà Tuệ Uyển đã  và do nhà xuất bản Hông Đức ấn hành.



Thursday, April 9, 2015

THĂM CHÍNH QUYỀN NHỮNG VÙNG TỰ TRỊ Ở BẮC Ý ĐẠI LỢI


Published: Tuesday, 17 November, 2009
Tuệ Uyển chuyển ngữ

South Tyrol President Luis Durnwalder (Centre R) receives His Holiness the Dalai Lama at Bolzano airport, Italy, Monday, November 16, 2009. (Photo: Tibet.net


South Tyrol & Trento, Italy, 17 November 2009 (OT-Geneva) -  “Hân hoan Cung nghinh Đấng Thánh Thiện đến xứ sở, thành phố và quê hương của chúng tôi” Thống đốc Luis Durnwalder của South Tyrol nói như thế.  Hôm nay, Đức Đạt Lai Lạt Ma đã viếng Bolzano và Trento thủ phủ của chính quyền những vùng Tự trị của South Tyrol và Trento, ở miền Bắc Ý Đại Lợi, .  Đức Đạt Lai Lạt Ma đã tỏ lòng biết ơn sự hổ trợ từ nhân dân và những chính quyền của hai vùng tự trị.

)
Đức Đạt Lai Lạt Ma đã chỉ Thống đốc Luis Durnwalder bản đồ của Tây Tạng và những nơi đã nổ ra những cuộc phản kháng hòa bình năm 2008.  Trong  khi nhìn vào bản đồ Thống đốc Luis Durnwalder đã hỏi Lhasa ở nơi nào.  Sau khi chỉ Lhasa, Ngài cũng đã chỉ trên bản đồ nơi sinh quán của Ngài, Amdo.
Mặc dù tình trạng đe dọa ở  Tây Tạng, Đức Đạt Lai Lạt Ma đã nói mọi việc đang  thay đổi.  Nhiều học giả Trung Hoa đang biểu lộ cảm tình và thông hiểu cuộc đấu tranh của người Tây Tạng.  Hơn 800 tiêu đề bằng tiếng Trung Hoa đã được viết về vấn đề Tây Tạng và nhiều bài đã được viết ở Hoa Lục.
Trong khi ở Bolzano như một bộ phận của Chuỗi Chương trình “Gặp gở Những Khôi nguyên Nobel” được tổ chức bởi Hàn lâm viện Âu châu tại Bolzano, Đức Đạt Lai Lạt Ma cũng dự những buổi họp  nói về những  câu hỏi và trả lời thời niên thiếu của Ngài, tái sinh, Phật giáo Tây Tạng, bất bạo động, và vấn đề Tây Tạng.
Sau khi hội kiến với Thống đốc Lozenro Dellai của Trento vào buổi trưa, Đức Đạt Lai Lạt Ma đã phát biểu cuộc hội thảo bàn tròn về khu Tự trị Tây Tạng.  Cả hai vị Thống đốc  Luis Durnwalder và Lorenzo Dellai cũng phát biểu tại hội nghị.  Hai ngày hội nghị được tổ chức bởi Tỉnh Tự Trị Trento cộng tác với Bộ Khoa học, Đại học Trento và Hàn lâm viện Âu châu tại Bolzano.  Một cách thân ái để thấy Những Giải pháp của Những vùng Tự trị trong Sự Hổ trợ cho Tây Tạng.
Đức Đạt Lai Lạt Ma đã tuyên bố lòng biết ơn của Ngài trong một hội nghị như thế được tổ chức cho sự tự trị.  Ngài nói rằng một hội nghị như thế này sẽ gởi một thông điệp mạnh mẽ đến Bắc Kinh rằng vấn đề Tây Tạng sẽ không bị quên lãng.
“Chúng tôi cũng muốn sự tự trị trong nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa.  Các bạn hưởng thụ tất cả những quyền được đề cập trên giấy tờ.  Trong trường hợp của chúng tôi, mặc dù hiến pháp (Trung Cộng) đề cập những quyền này nhưng không có điều gì được thi hành,”  Ngài nói.
Người Tây Tạng có ít ra là 1.000 năm lịch sử.  “Chúng tôi đã phát triển ngôn ngữ và chữ viết riêng cùng nền văn minh của chúng tôi.  Không phải chúng đến từ Trung Hoa,”  Đức Đạt Lai Lạt  Ma nói như thế.
“Không người Tây Tạng nào xem họ là người Trung Hoa,” Ngài nói.  “Bất cứ nơi nào tôi đến, người ta nói Đạt Lai Lạt Ma của Tây Tạng, chứ không phải Đạt Lai Lạt Ma của Trung Hoa.”  Đức Đạt Lai Lạt  Ma cũng liên hệ Phật Giáo Tây Tạng và nó không gọi là Phật Giáo Tây Tạng của Trung Hoa.
Tuy nhiên, Đức Đạt Lai Lạt  Ma nói rằng chúng tôi (người Tây Tạng) không đang tìm kiếm sự độc lập khỏi Trung Hoa.  Và không có thay đổi gì trong vị thế của chính quyền Trung Cộng.  Họ sợ rằng nếu họ cho thêm tự do, điều đó sẽ mang đền nhiều rắc rối hơn.
Ngày mai, Đức Đạt Lai Lạt  Ma sẽ phát biểu tại Hội nghị Nghị viên Thế giới lần thứ năm vì Tây Tạng vào ngày 18 tháng Mười một tại Rome.  Hơn 200 Nghị viên từ hơn 28 quốc gia bao gồm hơn 100 Nghị viên Ý Đại Lơi sẽ tham dự hội nghị quan trọng này.   Hai ngày hội nghị sẽ được tổ chức tại Hạ nghị viện Ý Đại Lợi và được tổ chức bởi Liên nhóm Nghị viên Ý Đại Lợi vì Tây Tạng.
Những Giải pháp về những Vùng Tự trị vì sự Hổ trợ cho Tây Tạng.
Trong tháng Ba năm 2008, thế giới đã bị khích động về sự đàn áp bạo tàn của chính quyền Trung Cộng đối với những cuộc biểu tình phản kháng ở Lhasa và nhiều vùng khác ở Tây Tạng, mà người Tây Tạng đã phản đối sự vi phạm nhân quyền cùng đòi hỏi tự do.  Trong sự diễn tiến của Thế vận hội, vấn đề Tây Tạng vì thế một lần nữa đã đi vào công luận thế giới.  Ngay sau Thế vận hội, đại diện của chính quyền lưu vong Tây Tạng đã trình bày đến những người tương nhiệm Trung Cộng “Bức Giác thư về sự Tự Trị Chân Thật cho người Tây Tạng.”
Trong bức giác thư này, phía Tây Tạng đồng ý thừa nhận chủ quyền của Trung Hoa trong sự hoán đổi cho một sự tự trị thật sự.  Xa hơn thế, Bức Giác thư kêu gọi sự tôn trọng nền văn hóa và đặc tính của người Tây Tạng, trong khi tôn trọng những nền tảng căn bản của hiến pháp Trung Hoa.
Bức Giác thư cung cấp một căn bản để thảo luận cho việc thi hành một cách đúng đắn điều đã đã được thừa nhận bởi chính quyền Bắc Kinh một cách chính thức lần đầu tiên trong “Thỏa ước Mười bảy điểm” năm 1951 và sau đó với việc thành lập vùng Tự Trị Tây Tạng, nhưng thật sự đã bị phủ nhận từ năm 1959, sau khi Bắc Kinh chiếm trọn quyền thống trị Tây Tạng và đem người Han đến định cư, điều ấy làm cho người Tây Tạng trở thành thiểu số ngay trên mãnh đất quê hương của họ.
Sự tự trị của những Vùng và Tỉnh mà chúng tôi đại diện là chứng cớ rõ rệt nhất rằng những sự xung đột có thể được giải quyết trong một cách bất bạo động, hoàn toàn tôn trọng những quyền lợi của cả đôi bên, và có thể bảo tồn truyền thống văn hóa cũng như đặc tính của một dân tộc, ngay cả thiểu số, qua hình thức những vùng tự trị và chính quyền tự quản.  Điều ấy đặc biệt biểu lộ rằng những quyền lợi của nhóm và dân tộc thiểu số tương hợp với chủ quyền và sự thống nhất của quốc gia.
Vì những lý do này chúng tôi hổ trợ sự quan tâm của Đức Đạt Lai Lạt Ma và Chính phủ cùng Quốc hội lưu vong của Tây Tạng để theo đuổi quyền tự quyết nội trị thay vì sự độc lập.  Những đề nghị chứa đựng trong “Bức Giác thư về sự Tự Trị Chân Thật cho người Tây Tạng” là phương pháp hiệu quả nhất để đạt được những quyền lợi cho người Tây Tạng để tự trị trong tất cả những vùng của Tây Tạng và cho sự bảo tồn ngôn ngữ, văn hóa, và tôn giáo của họ, cũng như cho sự bảo tồn môi trường và tài nguyên thiên nhiên của họ.
Quán sát kinh nghiệm của những vùng tự trị khắp thế giới, là điều chứng tỏ rằng những xung đột có thể được ngăn ngừa hay vượt qua bằng việc tôn trọng những quyền lợi căn bản của những dân tộc khác nhau cùng nhân chủng và ngôn ngữ thiểu số và cho phép họ thi hành những quyền để tự trị trong khi tôn trọng sự toàn vẹn lĩnh thổ quốc gia.
Chúng tôi kêu gọi Quốc vụ viện Trung Hoa:
- Quan tâm đến sự tồn tại và kinh nghiệm của những vùng tự trị này và khả năng của họ vượt qua xung đột và duy trì những đối thoại có tính chất xây dựng tương ứng giữa chính phủ trung ương và chính quyền những vùng tự trị.
- Và để tiến hành những cuộc đối thoại với Đức Đạt Lai Lạt Ma và Chính phủ cùng Quốc hội Tây Tạng trên căn bản của Bức Giác thư về sự Tự Trị Chân Thật.
Chúng tôi kêu gọi kêu gọi Chính phủ Trung Hoa, Đức Đạt Lai Lạt Ma và Chính phủ cùng Quốc hội Tây Tạng lưu vong:
- Nhanh chóng thương thảo nhầm để bảo đảm cho việc thi hành một sự tự trị chân thành bởi người Tây Tạng một cách sớm sủa nhất và để ngăn ngừa sự xung đột trầm trọng hơn.
Cuối cùng, chúng tôi thỉnh cầu Liên Hiệp Quốc và chính phủ các nước thành viên hổ trợ những đối tượng của giải pháp này là điều hoàn toàn phù hợp với luật pháp quốc tế.
Như những lĩnh thổ thực sự tồn tại được hưởng sự tự trị và chính quyền tự quản, chúng tôi đưa ra sự hổ trợ của chúng tôi cho sự đạt đến một sự tự trị chính đáng và chân thật cho lĩnh thổ Tây Tạng trong sự quan tâm của các bên tương ứng.
Chúng tôi cống hiến kiến thức và những bài học mà chúng tôi học được từ lịch sử của chúng tôi, vị thế và hệ thống hợp pháp của chúng tôi có thể cung cấp những thí dụ hữu ích trong việc làm thế nào để làm cho thích hợp cho những đặc tính lĩnh thổ và nhân chủng trong những tình trạng quốc gia khác nhau trong những cách phục vụ cho sự quan tâm của các bên để giải quyết những vấn đề dị biệt của họ.
Chúng tôi cống hiến những tài liệu hợp pháp và hành chính để hổ trợ cho việc tìm kiếm cho việc phát triển những điều khoản và cơ cấu tiêu chuẩn và hợp pháp cho việc nhận thức về sự tự trị trong việc giữ gìn với hoàn cảnh đặc trưng và phức tạp trong nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa.
Chúng tôi kêu gọi tất cả những vùng tự trị hãy ký vào giải pháp này và đệ trình lên chính phủ quốc gia liên hệ để hổ trợ cho yêu cầu cho một sự tự trị chân chính và có thể chấp nhận được, điểu có thể làm cho người Tây Tạng được hưởng một chính quyền tự trị chân thật và hòa bình trong khuôn khổ hiến pháp Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa.
 

HH the Dalai Lama Visits the Regional Autonomous Governments
Tuệ Uyển chuyển ngữ
18-11-2009
http://www.dalailama.com/news.482.htm
   

Thursday, April 2, 2015

TRẢ LỜI NHỮNG CÂU HỎI TỪ HOA LỤC



                                                                                          Đức Đạt Lai Lạt Ma



Một buổi phỏng vấn qua internet giữa Đức Đạt Lai Lạt Ma từ nơi thường trú của ngài ở Dharamsala và nhà hoạt động Teng Biao và luật sư nhân quyền Jiang Tianyong ở Hoa Lục. Chương trình này được bố trí bởi nhà văn Trung Hoa Wang Lixong vào ngày 04/01/2011. Các câu hỏi cũng được đặt ra cho Đức Đạt Lai Lạt Ma bởi những người Hoa từ nhiều thành phố khác nhau ở Hoa Lục.



1.- HỎI: Thưa Đức Thánh Thiện, quan điểm của ngài như thế nào đối với Ngabo Ngawang Jigme? Ông ta là đại diện của ngài để thương thuyết với Cộng Hòa Nhân Dân Trung Hoa và cũng là người đã ký kết thỏa thuận Mười Bảy Điều [năm 1951]. Thậm chí ngài không ban cho ông ta toàn quyền [để ký thỏa thuận], nhưng sau này ngài đã chấp nhận thỏa thuận ấy. Cuối cùng, hầu hết thời gian còn lại, ông ta đã đứng ra chống lại ngài, và đã hành động như một người phát ngôn cho chính quyền Trung Cộng về vấn đề Tây Tạng.



ĐỨC ĐẠT LAI LẠT MA: Tôi đã biết Ngabo thậm chí trước 1950. Người ta biết Ngabo vào lúc ấy nhìn ông như một người trung thực, một người chân thật. Tôi cũng xem Ngabo như tiến bộ và đáng tin cậy. Ông ta sau đó là một người chính có lòng tin và an tâm của tôi. Sau khi ký Thỏa Thuận, khi tôi gặp Ngabo ở Lhasa, ông nói với tôi rằng họ đã bị áp lực để ký Thỏa Thuận ấy vì nếu họ từ chối ký kết, sẽ đưa đến kết quả của một cuộc “giải phóng bằng vũ lực” cho Tây Tạng. Vì thế, tôi đã cảm thấy rằng một ‘sự giải phóng hòa bình’ thì tốt đẹp hơn một ‘cuộc vũ lực giải phóng’. Tuy thế, ông cũng nói rằng khi họ ký Thỏa Thuận, mặc dù họ đang mang theo khuôn dấu thống đốc Chamdo, nhưng họ đã không dùng nó. Thay vì thế, họ đã dùng con dấu giả mạo do nhà cầm quyền Bắc Kinh cung cấp.


Tương tự thế, trong năm 1979, sau khi Đặng Tiểu Bình biểu lộ sự mềm dẽo đặc biệt, tôi đã gởi những đoàn đại diện tìm kiếm sự thật cho Tây Tạng. Vào lúc ấy, khi những đại diện của tôi gặp Ngabo, ông đã nói với họ hãy cảnh giác về sự kiện rằng cho dù trong những thời gian của triều đại nhà Thanh, hay cho vấn đề ấy, chính quyền Quốc Dân Đảng, những khu vực trong lĩnh thổ của chính quyền Tây Tạng (Ganden Phodrang) không bao giờ phải đóng thuế cho họ. Ngabo vì thế đã biểu lộ rõ ràng lòng yêu nước của ông ta.


Cũng tương tự thế, trong năm 1989, trong một buổi Đại Hội Nhân Dân Khu Tự Trị Tây Tạng, Ngabo đã bác bẻ là không chính xác với thực tế của một văn kiện chính thức Trung quốc cho rằng chính quyền Nam Kinh (của Quốc Dân Đảng) đã thực hiện mọi quyết định liên hệ đến sự đăng quang của Đạt Lai Lạt Ma thứ 14. Ngabo nói rằng sự tái sinh của Đạt Lai Lạt Ma được hội đồng nhiếp chính của Tây Tạng công nhận phù hợp với truyền thống tôn giáo và rằng không có một giới chức quyền lực kiểm soát ngoại quốc nào tại lễ đăng quang. Những tuyên bố như đã nói trước đây, Ngabo nói, là không đúng như được thừa nhận bởi giới chức thẩm quyền của Quốc Dân Đảng. Mặc dù tôi là một thiếu niên vào lễ đăng quang, tôi vẫn nhớ một cách sâu sắc rằng có những đại biểu của Anh Quốc, Ấn Độ, Trung Hoa, Nepal, và Bhutan ngồi đồng đẳng trong hàng ngũ của họ. Do thế, trong những vấn đề này, Ngabo đã từng hoàn thành trong khả năng tuyệt nhất của ông ta nhằm để làm sáng tỏ những sự kiện thực tế. Sau cái chết của ông ta, chúng tôi tổ chức một lễ truy điệu. Thực tế, một số bạn hữu của chúng tôi bình phẩm rằng lễ truy điệu của chúng tôi cho ông là không thích đáng. Tất cả chúng tôi biết sự thật rằng người ở dưới sự sợ hãi đã bị thúc ép để nói một cách ngoại giao phù hợp đến những tình cảnh cụ thể. Đây là lý do tại sao tôi luôn luôn hoàn toàn tin tưởng ông ta. Mặc dù bây giờ ông đã qua đời, nhưng tôi vẫn luôn luôn cầu nguyện cho ông ta.



2.- HỎI: Thưa Đức Thánh Thiện, ngài có đang đánh mất sự kiểm soát đối với thái độ của một số ít người Tây Tạng lưu vong không? Ngài nghĩ gì nếu điều ấy xãy ra và ngài sẽ hành động thế nào với điều này?



ĐỨC ĐẠT LAI LẠT MA: Có hơn một trăm năm chục nghìn người Tây Tạng sống lưu vong, có lẻ 99 phần trăm cùng chia sẻ sự quan tâm thông thường và chân thành đối với vấn đề Tây Tạng. Dĩ nhiên, sẽ có những ý kiến khác biệt và nó phải hiện hữu vì ở đây chúng tôi đang đi theo con đường dân chủ. Tôi nói đồng bào tôi rằng họ có quyền tự do ngôn luận và tự do tư duy, và họ nên biểu lộ một cách tự do. Vì thế sẽ có những ý kiến khác nhau. Lấy thí dụ Đại Hội Thanh Niên Tây Tạng. Họ chiến đấu cho nền độc lập và phê bình chính sách Trung Đạo. Trong những cuộc gặp gở thỉnh thoảng với họ, tôi nói họ ‘chính quyền Trung Hoa cho rằng tôi phải bắt một số người quý vị’, nhưng tôi không thể làm những việc như thế ở đây trong một xứ sở tự do và tôi sẽ không bao giờ làm một việc như thế.



3.- HỎI: Câu hỏi của tôi đến ngài, vị thầy của tôi, là sự chiến đấu bất bạo động và sự thật (không hợp tác) có hiệu quả không trong việc đối diện với Cộng Sản Trung Hoa? Nếu có, những cách nào mà người Tây Tạng được lợi ích bằng việc bất bạo động và sự thật?


ĐỨC ĐẠT LAI LẠT MA: Tôi luôn luôn nói với những người Tây Tạng giống như vậy. Và tôi muốn nêu lên ở đây rằng mặc dù chúng tôi kiên định với chính sách Trung Đạo căn cứ trên nền tảng bất bạo động chưa gặt hái một kết quả rõ ràng qua việc đối thoại với chính quyền Trung Hoa, nhưng nó hổ trợ chúng tôi trong việc tiếp nhận một sự giúp đở mạnh mẽ từ những người trí thức, sinh viên Trung Hoa và những ai quan tâm và tỉnh thức với thực tại. Đây là thành quả từ những nổ lực của tôi.


Thật khó khăn để đối diện với chính quyền Trung Hoa, nhưng tôi nghĩ mặc dù chúng tôi bất lực để duy trì sự tiếp xúc rộng rãi với những người trí thức và công chúng Trung Hoa, sự đấu tranh của chúng tôi sẽ chiếm được sự ủng hộ của họ và sẽ tiếp tục lớn mạnh. Một vài tháng sau sự kiện Thiên An Môn, tôi đã gặp một số người bạn Trung Hoa tại Đại Học Harvard khi tôi ở Hoa Kỳ vào lúc ấy. Sau khi tôi giải thích với họ vị trí của chúng tôi, họ đã nói rằng toàn bộ người Hoa sẽ hổ trợ chính sách của Đạt Lai Lạt Ma nếu họ biết về điều ấy.



4.- HỎI: Thưa Đức Thánh Thiện, xin hãy giải thích làm thế nào cải cách hệ thống lạt ma tái sinh chấp nhận được? Một sự cải cách như vậy có mâu thuẩn với những giáo huấn của Đức Phật hay không?


ĐỨC ĐẠT LAI LẠT MA: Từ sự bắt đầu, tôi muốn yêu cầu người đặt câu hỏi đọc một ít về những giáo huấn của Đức Phật như chứa đựng trong bộ Cam Thù (những lời dạy của Đức Phật) và Đan Thù (Những luận giải của những đạo sư). Phong tục thừa nhận những lạt ma tái sinh đã không phát triển ở Ấn Độ. Tương tự thế, truyền thống lạt ma tái sinh đã không phát triển ở nhiều quốc gia Đạo Phật như Thái Lan, Miến Điện, và Trung Hoa. Có một hệ thống thừa nhận ai đấy như tái sinh của một người giác ngộ, nhưng hệ thống thừa nhận ai đấy như một Hóa thân (Tulku) hay Lạt ma không hiện hữu. Ở Tây Tạng, sự tái đinh trước tiên nhất được thừa nhận sau khi đứa bé nhớ rõ ràng đời sống quá khứ của nó và những điều ấy được chứng minh là đúng. Sau đó, hệ thống này chậm rãi và từ từ trở thành một tầng lớp cấu trúc trong xã hội. Do bởi điều này, tôi đã từng thực hiện để cho thấy rõ ràng có một sự khác biệt giữa Hóa thân và Lạt ma. Một Lạt ma không cần là một hóa thân và một Hóa thân không cần là một Lạt ma hay một người có thể cả là Lạt ma và Hóa thân. Người nào tương ứng như kết quả của một người sở hữu những sự học vấn và thực hành được biết như một Lạt ma. Một hóa thân, ngay cả không có một căn bản học vấn, thụ hưởng vị thế trong xã hội với danh tự của một Lạt ma quá khứ. Và có nhiều người thiếu phẩm chất của Lạt ma và thậm chí đưa đến tình trạng bị ruồng bỏ. Vì thế, tôi thường nói từ khoảng bốn mươi năm trước rằng cần có một hệ thống nào đấy để quy định sự công nhận Hóa thân. Trái lại, thật không tốt để có quá nhiều Hóa thân không xứng đáng.



Tôi cho rằng sự quan tâm của tôi trong hệ thống tái sinh vì việc phụng sự giáo huấn của Đức Phật. Trong trường hợp tái sinh của Đạt Lai Lạt Ma, truyền thống bốn trăm năm của Đạt Lai Lạt Ma như cả lĩnh tụ tâm linh và thế quyền đã chấm dứt với sự bầu cử trực tiếp đội ngũ lĩnh đạo bởi những người Tây Tạng lưu vong trong năm 2001. Trong năm 1969, tôi đã công bố một tuyên ngôn của văn phòng tôi rằng thể chế Đạt Lai Lạt Ma có nên tiếp tục hay không sẽ được quyết định bởi những người Tây Tạng. Trong tương lai, để quyết định có sự tái sinh của Đạt Lai Lạt Ma hay không và nếu có nhu cầu, không cần thiết phải luôn luôn tuân thủ những ưu tiên trước đây nhưng chúng tôi có thể hành động phù hợp với những trường hợp cụ thể. Điều này phù hợp và không đi ngược với giáo huấn của Đức Phật. Khi tôi giải thích về khả năng cho sự tái sinh của những lạt ma trong tổng quát và trường hợp đặc biệt của Đạt Lai Lạt Ma, một số người Tây Tạng bên trong Tây Tạng cũng như những người bạn Trung Hoa tự hỏi điều này có phù hợp với truyền thống tôn giáo của chúng tôi không.



5.- HỎI: Hiện tại có nhiều người ở Trung Hoa giận dữ và thù địch sâu xa với ngài. Ngài phải nói gì với họ?


b Có lúc Đạt Lai Lạt Ma được gọi là quỷ dữ. Và trong một ít trường hợp tôi được hỏi tôi đã nghĩ gì khi Đạt Lai Lạt Ma bị gọi là quỷ dữ và tôi đã nói với họ trong một sự hài hước rất tuyệt rằng, “tôi là quỷ dữ, tôi có những cái sừng trên đầu tôi.”


Điều này có thể hiểu được vì người Trung Hoa chỉ có quyền nghe thấy những tin tức một chiều và bị bóp méo. Thí dụ, trong thời gian rước đuốc Thế Vận Hội, tôi đặc biệt đề nghị những người quan tâm rằng những cuộc tranh tài Thế Vận là một vấn đề tự hảo của 1,3 tỉ người Trung Hoa và chúng ta không được tạo nên bất cứ rắc rối nào. Hơn thế nữa, ngay cả trước khi Trung Hoa được quyền tổ chức Thế Vận Hội, khi tôi đang thăm viếng thủ đô Hoa Sinh Tân của Hoa Kỳ, một số phóng viên đã hỏi tôi về quan điểm của tôi. Tôi đã nói với họ rằng Trung Hoa là quốc gia đông dân nhất với một di sản văn hóa và lịch sử phong phú xứng đáng là quốc gia tổ chức những cuộc tranh tài. Đây là một vấn đề thật sự.


Nhưng chính quyền Trung Hoa vẫn công khai om sòm rằng chúng tôi đã tạo nên những rắc rối cho Thế Vận Hội. Do bởi những sự tuyên truyền như thế, người Trung Hoa không thể nhận thức khung cảnh toàn bộ và vì thế không thể phiền trách họ.


Thế nên, tôi muốn khuyến nghị những người anh chị em Trung Hoa thẩm tra những chi tiết kỷ lưởng và nghiên cứu một cách hoàn toàn tin tức mà quý vị tiếp nhận từ tất cả mọi nguồn gốc. Khi tôi gặp những sinh viên Trung Hoa, tôi nói với họ rằng ở trong một quốc gia tự do họ nên sử dụng cả đôi tai và đôi mắt một cách đầy đủ trọn vẹn.



6.- HỎI: Như tất cả những điều chúng tôi biết, chính quyền trung ương của Trung Hoa Dân Quốc đã tham dự trong tiến trình lựa chọn và lễ đăng quang của Đức Đạt Lai Lạt Ma tái sinh. Vì thế, thưa Đức Thánh Thiện, ngài có thừa nhận Cộng Hòa Trung Hoa trên đảo Đài Loan hay không và ngài nghĩ chính quyền Đài Loan sẽ có ảnh hưởng ít nhiều như thế nào trong tiến trình tái sinh?


ĐỨC ĐẠT LAI LẠT MA: Điều này tương tự như sự giải thích của tôi về câu chuyện của Ngabo. Một cách tổng quát, khi tôi ở Đài Loan, tôi đã hổ trợ điều gọi là ‘Một Trung Hoa’. Nhưng cuối cùng, điều này tùy thuộc vào người dân Hoa Lục và Đài Loan quyết định họ có muốn thống nhất trong tương lai hay không. Điều quan trọng hơn là nền dân chủ của Đài Loan, nền kinh tế mạnh mẽ và tiêu chuẩn tốt đẹp của nền học vấn tại Đài Loan nên được bảo vệ một cách thích đáng. Đây là những gì tôi thường nói.



WANG LIXIONG: Chúng tôi đã thật sự thấy Đức Đạt Lai Lạt Ma, chỉ thế ấy, như Ngài nói rằng chúng tôi có thể không ngửi được nhau mà thôi. Sử dụng Internet của thế kỷ 21, chúng tôi cho rằng cơ hội này cho việc tương tác với Đức Thánh Thiện là điều quan trọng căn bản. Do thế, nếu những sự đối thoại như thế này được thấy như tích cực cho mối quan hệ Hoa – Tạng và thấu hiểu nhau sâu xa hơn, thế thì trong tương lai tôi nghĩ và hy vọng rằng nhiều học giả và những người Trung Hoa quan tâm sẽ tham gia. Trân trọng kính chào. Tashi Delek.


ĐỨC ĐẠT LAI LẠT MA: Thật là tốt đẹp. Nếu tiện lợi cho ông, tôi luôn luôn sẳn sàng và hoàn toàn chuẩn bị để tương tác, sử dụng kỷ thuật hiện đại và xua tan những niềm nghi ngại của những người bạn Trung Hoa. Tôi luôn luôn nói, “Hán – Tạng đại hữu hảo” (mối quan hệ hữu nghị giữa người Trung Hoa và Tây Tạng).


Nếu chúng ta có cơ hội thường xuyên tổ chức những buổi gặp gở và trao đổi tương tự, điều này sẽ giúp xây dựng một sự tin tưởng và thấu hiểu chân thành giữa chúng ta. Chúng ta sẽ không thể xây dựng niềm tin khi ở cách xa nhau. Chúng ta càng thảo luận rõ ràng hơn những vấn đề của chúng ta chúng ta càng có thể đạt được niềm tin tưởng với nhau hơn. Nếu có niềm tin tưởng sẽ có những mối quan hệ thân ái và với những mối quan hệ chân thành, ngay cả nếu có một rắc rối, chúng ta có thể giải quyết nó.


Quý vị có thấy tôi rõ ràng không? Quý vị có thấy chân mày màu xám của tôi không? Hẹn gặp lại quý vị. Trân trọng kính chào. Tashi Delek. Chân thành cảm ơn.




Tuệ Uyển chuyển ngữ - 22/01/2011