Nguyên tác: Explanation
of Buddhist Sexual Ethics: An Historical Perspective
Tác giả: Alexander Berzin
Chuyển ngữ: Tuệ Uyển – 05/03/2010
--***--
Tổng quan nội dung
1- Đạo đức Tình dục Phật giáo trong Bối cảnh Tứ
Diệu Đế
2- Phân biệt giữa Hành vi Tình dục Phù hợp và
Không phù hợp
3- Tổng quan Lịch sử về Đạo đức Tình dục Phật
giáo
4- Phân tích sự Tiến hóa của khái niệm Hành vi
Tình dục Không phù hợp
5- Giới nguyện của Cư sĩ (Tại gia)
6- Mật tông (Tantra)
7- Các Yếu tố Ảnh hưởng đến Quả nghiệp
8- Tóm tắt
--***--
326. Trước tâm này buông lung,
Chạy theo ái, dục, lạc.
Nay Ta chánh chế ngự,
Như cầm móc điều voi.
(Kinh Pháp Cú - Đại Trưởng Lão Minh Châu dịch)
1- Đạo đức Tình dục Phật giáo trong Bối cảnh
Tứ Diệu Đế
Tối nay chúng ta sẽ nói về Đạo Đức Tình dục Phật giáo. Như bất cứ giáo huấn nào
của Đạo Phật, chúng ta cần thấy nó thích ứng như thế nào trong căn bản cấu trúc
của Phật giáo, mà nó là bốn chân lý cao quý. Một cách rất tóm tắt, Đức Phật nói
về sự thật về khổ đau mà tất cả chúng ta trãi qua – đây là chân lý thứ nhất. Vì
thế, sự thật về khổ não của bất hạnh, và đau đớn, khổ não của hạnh phúc thông
thường của chúng ta là nó không bao giờ kéo dài và rồi biến thành bất hạnh – giống
như khi chúng ta tiếp tục ăn những thực phẩm mà chúng ta thích, hạnh phúc mà
chúng ta mới đầu có sẽ biến thành buồn phiền khi chúng ta đầy bụng.
Rồi thì có sự khổ não lan tràn cùng khắp, mà nó là cơ sở để trãi qua hai loại
trước, cũng là điều của sự tái sinh luân hồi không thể kiểm soát của chúng ta,
với một thân thể và tâm thức mà nó sẽ là cở sở cho phiền não hay những sự hạnh
phúc thông thường. Và, nguyên nhân chính của tất cả những điều ấy là sự bất
giác hay không hiểu biết của chúng ta về nhân và quả và của thực tại, và những
cảm xúc phiền não đã phát sinh bởi chúng, và thái độ nghiệp báo bị sinh khởi bởi
những cảm xúc phiền não ấy – cả thái độ tàn phá cũng như thái độ xây dựng, cũng
như ngay cả thái độ xây dựng của chúng ta, khi nó bị pha lẫn với mê mờ si ám về
việc chúng ta hiện hữu như thế nào và mọi thứ đã hiện hữu như thế nào, tất cả
những thứ ấy làm tiếp tục không ngừng vòng sinh tử luân hồi của chúng ta.
Chân lý thứ ba là có thể đạt đến một sự chấm dứt thật sự những khổ đau bằng việc
xa rời những nguyên nhân thật sự của nó, do thế chúng sẽ không bao giờ lập lại
một lần nữa. Và thứ tư là con đường chân thật của tâm thức , trong những ngôn
ngữ khác đấy là cung cách suy nghĩ, mà cũng là cung cách hành động và nói năng
phát sinh bởi suy nghĩ ấy, những điều sẽ có thể cho phép chúng ta đạt đến sự chấm
dứt chân thật hay diệt đế [1].
Đấy là cấu trúc căn bản của giáo lý Đạo Phật. Thế nên, khi chúng ta nói về đạo
đức tình dục, chúng ta phải hiểu vị trí của thái độ tình dục trong những hình
thức của tập đế hay chân lý về nguyên nhân của khổ não. Và nếu chúng ta muốn đạt
đến chân lý ngừng dứt khổ não – đặc biệt là sinh tử luân hồi liên tục như căn bản
mà nó cũng sẽ bao gồm khổ đau của bất hạnh cũng như khổ đau của những hạnh phúc
thông thường của trần gian – rồi thì chúng ta cần phải chiến thắng những gì là
những khía cạnh khó khăn của thái độ tình dục của chúng ta.
2- Phân biệt giữa Hành vi Tình
dục Phù hợp và Không phù hợp
Bây giờ, theo quan điểm Phật giáo, khi chúng ta nói về đạo đức nó không phải là
vấn đề có một hệ thống luật lệ và tuân thủ chúng; đấy là nhận thức của Tây
phương hoặc là đến từ Thánh kinh hay từ luật lệ dân sự. Toàn bộ căn bản đạo đức
trong Phật giáo được cấu trúc theo tuệ giác [2]. Nói cách khác, nền tảng cho
thái độ đạo đức của chúng ta không phải là sự tuân thủ luật lệ mà đúng hơn là sự
phân biệt giữa những gì lợi ích và những gì tổn hại. Thế nên, không ai nói rằng
chúng ta phải tránh một loại thái độ nào đấy mà nó sẽ làm nguyên nhân cho khổ
đau và rắc rối; đấy là sự lựa chọn của chúng ta. Nếu chúng ta muốn tránh khổ
đau, xa lánh chúng, rồi thì Đức Phật đưa ra đây là những loại thái độ mà chúng
ta cần xa lánh. Và rồi đấy là sự chọn lựa của chúng ta. Vì vậy, nó không phải
là vấn đề hãy là một người tốt hay một người xấu hay tuân theo luật lệ và không
có nhận thức về tội lỗi; tội lỗi là nếu chúng ta vi phạm luật lệ.
Do vậy, toàn bộ sự thảo luận về đạo đức tình dục được đặt trọng tâm chung quanh
toàn bộ khía cạnh tuệ giác [phân biệt tỉnh thức] này. Và, nếu chúng ta không thể
tránh một loại thái độ tình dục rắc rối nào đấy, thế thì có rất nhiều, rất nhiều
yếu tố mà chúng sẽ ảnh hưởng mức độ khổ não do thái độ ấy sản sinh cho chúng
ta. Và vì thế, những gì chúng ta cố gắng hành động là giảm thiểu tối đa sự trầm
trọng của thái độ tình dục không thích đáng. Điều ấy liên hệ đến sự phân biệt
giữa những gì chúng ta sẽ tạo nên hành động có những hậu quả trầm trọng và những
gì chúng ta làm nên có những hậu quả nhẹ nhàng hơn, và hãy cố gắng tạo tác những
hậu quả nhẹ nhàng nhất mà chúng ta có thể.
Tất
cả các Hành vi Tình dục Đều có Tính Tai hại
Bây giờ, chúng ta cẩn thấu hiểu những đặc trưng được dùng trong việc phân loại
những loại thái độ khác nhau. Có những hành vi phi đạo đức [3]. “Phi đạo đức”
có nghĩa là chúng ta sẽ không giới thiệu nó cho bất cứ người nào. Chúng không
đáng ca ngợi và chúng sẽ sản sinh một số những rắc rối. Một số là không thích
đáng một cách tự nhiên [4], vì thể chúng sẽ là phi đạo đức đến bất cứ người
nào; và một số là cấm chỉ phi đạo đức [5], chúng được gọi thế, mà Đức Phật giới
thiệu cho một số người nào đấy trong những hoàn cảnh nào đấy cho họ tránh điều ấy.
Và đây là những hành động căn bản trung tính đạo đức, thí dụ, một sư cô hay sư
thầy ăn uống sau giờ ngọ. Ăn uống sau buổi trưa là một hành vi trung tính đạo đức,
nhưng nếu chúng ta là những sư cô hay sư thầy và chúng ta muốn thiền tập với một
tâm thức trong sáng vào buổi tối và vào buổi sáng, thế thì tốt nhất là hãy
tránh ăn sau buổi trưa.
Bây giờ, đối lại những hành vi cấm chỉ phi đạo đức này ( đạo đức trung tính),
đó là những hành vi phi đạo đức với tính chất tự nhiên là tàn phá. “Tàn phá” có
nghĩa là chúng sẽ có kết quả trong khổ đau – ngoại trừ chúng ta tịnh hóa nó.
Bây giờ, tất cả những thái độ tình dục là phi đạo đức một cách tự nhiên. Đó
không phải là những gì mà chúng ta như những người Tây phương muốn nghe. Nhưng
tại sao tất cả những thái độ tình dục là tàn phá lại là vấn đề quan trọng. Tất
cả những thái độ tình dục là tàn phá bởi vì – theo những luận điển và tôi tin rằng
chúng ta có thể xác quyết điều này từ kinh nghiệm của chúng ta – nó làm cho những
cảm xúc phiền não gia tăng. Và nếu chúng ta muốn đạt đến giải thoát khỏi vòng
sinh tử luân hồi, chúng ta phải chiến thắng những cảm xúc phiền não. Vì thế, nếu
chúng ta muốn đạt đến giải thoát, cuối cùng chúng ta phải từ bỏ tất cả những
thái độ mà chúng có thể sẽ làm cho những cảm xúc phiền não gia tăng.
Cũng thế, nếu chúng ta nhìn vào mật điển Thời Luân (Kalachakra Tantra), nó giải
thích rằng thái độ tình dục và phương cách đến kích thích cực độ làm gia tăng dục
vọng và dính mắc của chúng ta. Chúng ta muốn có sự kích thích cực điểm ấy. Và
khi chúng ta có sự kích thích cực độ ấy và nó chấm dứt, rồi thì sau đó chúng ta
chìm đắm vào một trạng thái si ám ngờ ngệch vì chúng ta hoàn toàn bị mê mờ. Vì
thế, đây là những gì trong luận điển nói và chắc chắn nếu chúng ta thẩm tra
chính mình một cách chân thật, đấy là những gì xãy ra.
Chúng ta biết rằng theo những giáo huấn không phải mọi người phải là một sư cô
hay sư thầy nhằm đề đạt đến giải thoát và giác ngộ. Chúng ta có thể cũng cần là
những người gia trưởng. Vậy một người gia trưởng là gì? Một người gia trưởng có
nghĩa là ai đấy với một người vợ hay một người chồng và con cái và nhà cửa. Nó
không có nghĩa là một người nào đấy với hành vi tình dục. Do thế, tại những điềm
nào đấy, nếu chúng ta thật sự muốn đạt đến giải thoát chúng ta sẽ phải chấm dứt
mọi thái độ dục tình. Đây là những sự thật.
Bây giờ, hầu hết chúng ta chắc chắn là chưa sẳn sàng ở cấp độ ấy, tức là chỗ mà
chúng ta phải từ bỏ mọi thái độ tình dục. Nhưng đừng lừa dối chính mình. Đạo Phật
không phải được chứa đầy những ý tưởng lãng mạn và về vấn đề dục tình tuyệt diệu
như thế nào và ban tặng hạnh phúc đến người khác tuyệt vời như thế nào. Đó
không phải là những gì Đạo Phật nói, xin lỗi rất tiếc. Phật giáo phân loại điều
ấy như sự quan tâm sai lầm: xem khổ đau như hạnh phúc. Bởi vì với thái độ tình
dục đối với ai đấy, chúng ta cố gắng làm cho người đó hạnh phúc nhưng đó là một
loại thứ hai của khổ đau, hạnh phúc trần tục sẽ biến đi, nó sẽ không tồn tại
lâu, và nó sẽ làm cho những xúc tình phiền não gia tăng.
Quan điểm ấy tôi nghĩ là rất quan trọng đừng ngu ngơ về tình dục là gì theo
quan điểm của Đạo Phật. Nếu chúng ta sắp liên hệ trong thái độ tình dục – bất cứ
loại thái độ nào mà nó có thể là – tối thiểu hãy hiểu điều gì trong mức độ sâu
xa, căn bản nhất nhất bị nối kết với nó. Và đừng lý tưởng hóa nó; cứ thụ nhận
nó như nó là, nhưng đừng làm ra vẻ long trọng về nó.
Hiểu
về Ý nghĩa của Hành vi Tình dục “Không phù hợp”
Bây giờ, với đặc trưng ấy về tất cả những thái độ tình dục, điều gì là phi đạo
đức một cách tự nhiên, chúng ta có hai sự phân chia: điều gì được gọi là thái độ
tình dục không thích đáng, và điều gì không phải không thích đáng, tức là điều
tôi đoán là chúng ta sẽ gọi “thái độ tình dục thích đáng.” Vậy thì nó có nghĩa
là khổ não phát sinh bởi thái độ tình dục không chính đáng là to lớn hơn khổ
đau sinh ra bởi thái độ tình dục thích đáng. Bây giờ xin lưu ý quý vị, không ai
phủ nhận rằng thái độ tình dục mang hạnh phúc trần tục thông thường cho chúng
ta. Dĩ nhiên là thế, nhưng đó là một loại của khổ đau.
Thế nên, thái độ tình dục thích đáng sẽ là với người phối ngẫu hôn nhân của quý
vị và chỉ trong tiêu chuẩn của hành vi tình dục với bộ phận sinh dục nam và nữ.
Bất cứ điều gì khác có thể thật sự chỉ là cho một lý do vướng mắc và tham dục.
Loại đầu tiên của tình dục tối thiểu có thể là để sinh con đẻ cái, vì vậy từ
quan điểm ấy nó ít nặng nề, hay nhẹ nhàng nhất (đối với khổ đau mà nó có thể
phát sinh ra trong cõi sinh tử luân hồi).
Vậy thì, thái độ tình dục không thích đáng là gì? Khi chúng ta có danh sách mười
hành vi tàn phá, thì thái độ tình dục được liệt kê trong danh sách của những
hành vi tàn phá đó. Bây giờ, có một lịch sử lâu dài về sự phát triển cuả những
gì thật sự cầu thành thái độ tình dục không thích đáng, và rõ ràng có thể có
nhiều rắc rối trong sự hiểu biết điều này liên hệ như thế nào trãi qua thời
gian của lịch sử, và tại sao nó ngày càng phức tạp hơn? Có phải điều ấy chỉ được
thêm vào bởi những tu sĩ đạo đức chủ nghĩa [hay nghiêm khắc] sau này, ở Ấn Độ -
chúng tôi muốn nói rằng tất cả những điều ấy đã tiến triển ở Ấn Độ - hay những
sự phức tạp sau này đã ẩn tàng [hay hoàn toàn tuyệt đối] ở trong những bản liệt
kê thời kỳ phôi thai và sau này các nhà luận giải chỉ thảo ra ý nghĩa? Những đạo
sư Tây Tạng sẽ nói rằng chúng đã hoàn toàn tuyệt đối ở đấy từ lúc bắt đầu. Tuy
thế, rõ ràng hoàn toàn thú vị đề thấy những gì đã được ghi chú chi tiết vào lúc
nào và do ai, bởi vì nó cũng cho chúng ta một ít về tình trạng của những gì nặng
nề hơn và những gì ít nặng nề hơn. Nếu điều gì ấy đã từng được nhấn mạnh ngay từ
lúc nguyên thủy ban sơ, thế thì chúng ta có thể chắc chắn rằng đây là điều nặng
nề nhất của những loại thái độ tình dục không thích đáng khác nhau.
Ngay cả chữ “không thích đáng” này – đây là một từ ngữ cực kỳ khó khăn để chuyển
dịch. Nó tương tự với chữ mà chúng ta tìm thấy trong “những quan điểm bị bóp
méo”; nó là chữ mà trong những luận bản khác được dịch là “bị bóp méo.” Nhưng
chúng ta không thể dịch là “bị bóp méo,” bởi vì trong ngôn ngữ của chúng ta nó
có nghĩa là “bị xuyên tạc,” hay “người trái thói về tình dục” và chúng ta chắc
chắn không nói về điều đó. Đôi khi trong những luận bản khác từ ngữ này thật sự
chỉ có nghĩa là “đối ngược,” và chúng tôi nghĩ “đối ngược” là ý nghĩa gần nhất ở
đây. Nó là đối ngược, nói cách khác bất cứ điều gì không là thái độ thích đáng.
Hay “thái độ tình dục trái ngược” – điều gì trái ngược với điều đầu tiên,thích
đáng – là rắc rối. Và đôi khi chúng tôi dịch đó là “thái độ tình dục không
thông minh” và thỉnh thoảng là “không thích đáng.” Không nghĩa nào trong chúng
là sự chuyển dịch hoàn hảo, nhưng tại thời điểm chúng tôi đang dùng “không
thích đáng,” mặc dù nó có thể là một sự lựa chọn không thích đáng trong những từ
ngữ. Ý nghĩa là “mọi thứ mà không thích đáng.”
3- Tổng Quan Lịch Sử Về Đạo Đức Tình Dục Phật
Giáo
Phần
trình bày về Luật tạng (Vinaya)
Bây giờ, những giới luật đối diện với nguyên tắc cho những
tu sĩ nam nữ, và trong ấy, một trong những thệ nguyện cho cả tăng và ni là một
vị tu sĩ không được hành động như một sự môi giới giữa hoặc là một cuộc hôn
nhân hay một quan hệ tình dục bất chính cho những người nào đó. Đối với các sư
thầy, thông thường nó là một danh sách dài của những loại đàn bà khác nhau và
trong một số luật tạng nó cũng là những bản liệt kê một loại tương tự của đàn ông.
Loại đàn bà được liệt kê ở đây là những ai đã kết hôn hay những người dưới sự bảo
hộ của ai đấy, và có một bảng dài: cha hay mẹ hay chị em hay anh em và v.v… “Dưới
sự bảo hộ” được diễn giải như người con gái không được phép tự quyết định – rằng
mọi thứ bị quyết định bởi người bảo hộ. Hãy nhớ rằng, chúng ta đang nói về Ấn Độ
cổ đại, vì thế không có quan điểm hay bất cứ điều gì về sự giải phóng phụ nữ
hay quyền của phụ nữ ở đây.
Một danh sách tương tự, xuất hiện trong kinh điển nguyên thủy Thượng tọa bộ như
loại người sẽ là một đối tác thích đáng cho hành vi tình dục; nó là một danh
sách giống nhau. Thế nên, chúng ta có thể thấy từ những thời điểm rất sớm, ngay
từ lúc ban đầu, có một mối quan hệ rất gần gũi giữa đạo đức tình dục cho tu sĩ
nam nữ và đạo đức tình dục cho cư sĩ.
Trong chính những kinh điển – của Thượng tọa bộ, tạng Pali – giải thích rằng đó
là những đối tác không thích đáng, một cách căn bản bởi vì có hành vi ấy với họ
sẽ đưa chúng ta vi phạm nhiều những hành vi tàn phá khác. Nó có thể đưa chúng
ta dối trá về nó, và nếu người bảo hộ hay người chồng khám phá ra, rồi thì
chúng ta có thể giết người ấy hay chúng ta có thể trộm cắp để đút lót hối lộ;
hay nó có thể đưa đến việc có những tranh cải trong gia đình chúng ta. Và giống
như thế, nó có thể đưa đến nhiều vấn đề rắc rối.
Nếu chúng ta nhìn vào những kinh luận Pali trể hơn, tron những luận giải, nó giải
thích rằng nếu bạn có hành vi tình dục với một phụ nữ, mà người bảo hộ không
cho phép, thế thì chỉ người đàn ông có một hạt giống nghiệp tội lỗi. Người đàn
bà không có hạt giống nghiệp tội lỗi ngoại trừ trước khi hay trong thời gian của
hành động người đàn bà ấy không phát triển dục vọng và dính mắc. Điều này song
song với một trong những sự điều chỉnh đã làm với những tu sĩ nam nữ. Nếu một vị
sư cô bị hãm hiếp, ngoại trừ vị ấy phát triển dục vọng và dính mắc trong thời
gian bị hãm hiếp, bằng không vị ấy không đánh mất thệ nguyện của mình. Điều
cũng được thêm ở đây, mà chúng tôi chẳng bao giờ tìm thấy trong bất cứ truyền
thống Phật giáo nào khác là, nếu đôi trai gái ấy được phép – nếu người đàn bà
có sự ưng thuận của người bảo hộ hay của người chống – thế thì không có hạt giống
nghiệp tội lỗi cho cả người nam lẫn người nữ. Vì thế, nếu cha mẹ nói, “Ô, okay
thôi, con gái tôi lanh lợi trong việc ấy,” thế thì điều ấy okay. Nhưng nếu cha
mẹ thật sự chống lại mạnh mẽ, thế thì đó là một hạt giống nghiệp tội lỗi. Và
chúng ta có thể thấy làm thế nào điều đó có thể như vậy, bởi vì chúng ta có thể
phải nói dối về nó. Nó có thể tạo nên sự tranh cải và những rắc rối lớn nếu cha
mẹ phát hiện.
Hãy nhớ là, toàn bộ vấn đề ở đây là mức độ khổ đau như thế nào và rắc rối như
thế nào do hành vi tình dục của chúng ta tạo ra? Không có vấn đề đối với việc tốt
hay xấu. Nhưng điều không được đề cập ở đây là người đàn bà trong trường hợp
này có muốn hành vi tình dục hay không. Vì thế, theo quan điểm của chúng ta
chúng ta có thể nhìn vào điều này và nói, “Hê, còn vấn đề ở những cha mẹ ở những
nước quá nghèo và họ cho phép và bán con gái họ cho việc hành nghề tình dục
chuyên nghiệp. Điều ấy có okay không, bởi vì người con gái được phép của cha mẹ
cô ta?” Điều không định rõ trong những luận điển là nó có tùy trên việc người
đàn bà có muốn chuyện ấy hay không? Vì thế, rõ ràng đây là một trường hợp, như
chúng tôi đã giải thích trước đây, rằng chỉ vì nó không được đề cập, không có
nghĩa là nó không ẩn tàng trong sự diễn tả.
Vì thế, một lần nữa, chúng ta phải dùng sự tỉnh giác liễu biệt của chúng ta ở
đây đề phân tích.
Bây giờ, nếu chúng ta nhìn vào luật tạng của vài truyền thống khác buổi ban sơ
– có mười tám bộ phái Tiểu thừa, mỗi bộ phái có luật tạng riêng của họ - chúng
ta tìm thấy một ít đặc trưng nữa của những đối tác không thích đáng được liệt
kê. Quý vị thấy, đây cũng là một vấn đề lớn ở đây, toàn bộ sự thảo luận về đạo
đức tình dục chỉ được diễn tả từ quan điểm của một người đàn ông. Và vì thế, có
phải nó có nghĩa là chỉ bởi vì nó không được giải thích trong những dạng thức của
những đối tác không thích đáng cho một người đàn bà, nên không có đạo đức tình
dục cho đàn bà hay sao? Rõ ràng là không. Nó đã ẩn tàng trong sự giải thích mà
chúng ta sẽ phải hình thành một danh sách song song với phụ nữ. Trong một số luật
tạng này họ thêm một vị sư cô, với một thệ nguyện không dâm dục, và những tù
nhân – một người tù là ai đấy đang ở trong nhà giam bị nhà vua giam giữ ở đấy,
và đối với quý vị nếu đem người tù ra ngoài và có hành vi tình dục sẽ là không
thích đáng; người tù ấy thuộc về nhà vua.
Bây giờ, một trong những bộ phái Tiểu thừa là Thuyết Nhất Thuyết Hữu Bộ. Truyền
thống Phật giáo Tây Tạng cơ bản xuất phát từ bộ phái này, trong những hình thức
luật tạng của nó và trong hình thức của sự bàn luận của giáo lý Tiểu thừa, Tỳ
bà sa, và Kinh Lượng bộ - tất cả những điều này thể hiện trong Thuyết Nhất Thuyết
Hữu Bộ. Và luật tạng mà Phật giáo Tây Tạng hành trì là của Căn bản Thuyết Nhất
Thuyết Hữu Bộ, đấy là bộ phái hậu thân của Thuyết Nhất Thuyết Hữu Bộ.
Trong một văn bản của những luận điển rất sớm, nó cũng thêm vào danh sách của
những đối tác không thích đáng là những người du hành bơ vơ. Điều này liên hệ đến
việc lợi dụng trường hợp ai đấy đơn độc trên đường, không được ai bảo vệ. Nó
cũng thêm những học trò vào danh sách những người không thích đáng có quan hệ
tình dục. Ở đây chúng ta phải dùng một hình thức kỷ thuật khác: đạo đức độc thân
hay tịnh hạnh. Trong thái độ tình dục không thích đáng, có hai đặc trưng: đạo đức
độc thân và đạo đức không độc thân. Đạo đức độc thân ở Phạn ngữ là
Brahmacharya, Tạng ngữ là Tshangs-spyod. Chữ ấy có nghĩa đen là “hạnh kiểm
trong sạch” hay “đạo đức thanh tịnh”. Trong truyền thống Ấn Độ, theo phong tục Ấn
giáo, những học trò được đòi hỏi phải giữ hạnh kiểm độc thân trong khi học hỏi
với một vị đạo sư tâm linh. Đạo đức tình dục không độc thân liên hệ đến hành vi
tình dục với ai đấy qua bất cứ nơi nào thuộc ba nơi trên thân thể . Điều ấy có
nghĩa là qua hoặc là âm hộ, miệng, hay hậu môn. Và vì thế theo định nghĩa này,
giữ gìn hạnh kiểm độc thân không bao gồm thủ dâm. Nhưng, vì những học trò giữ sự
độc thân không có hành vi tình dục qua bất cứ nơi nào trong ba vị trí trên, nên
những học trò là những đối tác tình dục không thích đáng.
Một sự bổ xung xa hơn đến danh sách những đối tác không thích đáng mà chúng ta
thấy trong văn bản Thuyết Nhất Thuyết Hữu Bộ thời kỳ đầu là một người hành nghề
tình dục chuyên nghiệp không được trả tiền. Vì thế những người hành nghề tình dục
chuyên nghiệp là okay, theo văn bản này, nếu chúng ta chi trả cho họ. Vì thế nếu
chúng ta phân tích và thấy chúng ta đang nói điều gì ở đây, chúng ta đang nói về
những hìn thức đạo đức tình dục thực tế đúng là một sự mở rộng đạo đức phải làm
như đối với trộm cắp. Đấy là lấy những gì không được cho, những gì không phải của
chúng ta. Chắc chắn không có nói gì đến việc quý vị là kết hôn hay không. Vì thế,
truyền thống ở đây là không nói về sự ngoại tình – trung thành với người hôn phối
của mình; mà là hành vi tình dục với ai đấy không ưng thuận với chúng ta, hay
người đó không muốn. Hôn nhân là điều gì ấy thiêng liêng, là hoàn toàn đặc thù
một cách văn hóa. Chúng ta thấy nó trong Thánh kinh các tôn giáo, chúng ta thấy
nó trong Ấn Độ giáo, nhưng một cách chắc chắn không phải là Phật giáo.
Nếu chúng ta nhìn vào Kinh Niệm xứ (Satipatthana Sutra) nó nói trong dạng thức
của người phối ngẫu của chúng ta: họ không thể chia sẻ những hậu quả nghiệp báo
với hành động của con, họ không thể chia sẻ sự chết với con và v.v…, và họ chỉ
sản sinh những chướng ngại và những rắc rối. Do thế, nó là một quan điểm rõ
ràng tiêu cực về hôn nhân và những người phối ngẫu hôn nhân. Và có nhiều lời chỉ
bảo trong những dạng thức làm giảm thiểu sự dính mắc và dục vọng đến người phối
ngẫu của chúng ta như thế nào, với những sự thiền quán nổi tiếng hiện diện khắp
trong những kinh luận Phật giáo trong những hình thức quán tưởng những gì bên
trong bao tử của họ, và v.v…
Vì thế, một lần nữa, đây là một số điều mà chúng ta như những người phương Tây
thật sự không muốn nghe và không thích nghe. Nhưng đấy là một thệ nguyện bồ tát
không thu thập và chọn lựa trong Giáo Pháp chỉ những phần mà chúng ta thích và
chối bỏ những phần chúng ta không thích. Nhưng quan điểm thể hiện không ca ngợi
tình yêu và hôn nhân, và những thứ giống cung cách mà chúng ta thể hiện trong
những khái niệm lãng mạn của chúng ta ở phương Tây, hay không làm nó thành
thiêng liêng và thánh thiện. Và nếu chúng ta thật sự đã có một người phối ngẫu
cho dù đã làm lễ kết hôn hay chưa, hãy có một quan điểm thực tế về những gì
liên hệ. Như bất cứ người nào trong một mối quan hệ biết, một quan hệ là khó
khăn, không dễ dàng. Vì thế Đạo Phật không nói rằng, “Đừng có bất cứ một mối
quan hệ nào.” Mà Phật giáo nói rằng, “Hãy có một thái độ thực tiển về nó; đừng
ngờ ngệch.”
Cách
tiếp cận vấn đề theo Luận tạng Thuyết Nhất Thiết Hữu Bộ Sơ kỳ
Bây giờ, khi chúng ta nhìn vào sự tiến triển của luận điển a tỳ đạt ma trong
Thuyết Nhất Thuyết Hữu Bộ, trong trường hợp ấy chúng ta sẽ thấy càng nhiều hơn
những thứ đặc thù như lịch sử bày ra. Điều đầu tiên xuất hiện trong luận giải
là người vợ chính mình có thể không thích đáng trong dạng thức của một thời
gian không thích đáng cho chuyện ấy. Luận giải tiếp theo xuất hiện những bổ
xung nơi chốn không thích hợp cho chuyện tình dục. Và, luận điểm tiếp theo thêm
những vị trí trên thân thể không thích đáng cho chuyện ấy, nhưng nó không tỉ mỉ.
Quan điểm của Thế
Thân
Vì thế, sự soạn thảo tỉ mỉ đầu tiên trên tất cả điều này chúng ta tìm thấy là A
tỳ đạt ma câu xá luận, mà nó là Kho tàng A tỳ đạt ma của Thế Thân – bộ luận này
được mọi người trong Phật giáo Tây Tạng, mọi tông phái Trung Hoa; mọi người học
“A tỳ đạt ma” này. Luận điển này đúng là nghĩa lý những chủ đề đặc thù của kiến
thức. Vì thế ở đây có một sự phức tạp về những thứ này mà chỉ được thêm vào
trong thời kỳ phôi thai của những bình luận Thuyết Nhất Thuyết Hữu Bộ. Thế nên,
một đối tác không thích đáng – [nó] cho một danh sách cùng loại mà chúng ta có
trong luật tạng và những kinh điểm thời kỳ đầu: trong tất cả những loại phụ nữ
hoặc là đã kết hôn hay dưới sự giám hộ. Thậm chí nếu đó là vợ của chính mình, một
phần không thích đáng trên thân thể hoặc là hậu môn hay miệng. Chúng ta chỉ có
thể bị thúc đẩy bởi dục vọng; chúng ta sẽ không có con cái trong cách đó.
Và rồi thì, một nơi chốn không thích đáng, Thiên Thân soạn thảo kỷ lưỡng. Ngài
nói “rõ ràng đến những người khác” – nghĩa là bên ngoài khung cửa, nơi bất cứ
người nào có thể thấy chúng ta; bên cạnh một ngọn tháp hay ngôi chùa, do bởi biểu
lộ sự tôn trọng đến người khác và sự tôn kính những đối tượng tôn giáo. Biểu lộ
sự tôn trọng, chúng ta sẽ không có hành vi tình dục trước mặt họ. Một thời gian
không thích đáng sẽ là khi người đàn bà có mang, nay nuôi dưỡng con mọn, hay có
thệ nguyện một-ngày không có hành vi tình dục. Và trong một bình luận của Ấn Độ
về luận điển này, nó giải thích rằng có chuyện ấy với một người đàn bà mang
thai là không thích đáng vì nó làm tổn hại đến đứa bé bà ta đang mang thai, và
với người đàn bà đang nuôi dưỡng con nhỏ nó sẽ làm giảm khả năng cung cấp sửa của
bà ta. Vì thế, sự quan tâm ở đây là sự tổn hại mà nó phát sinh đến đối tượng thứ
ba, đứa bé.
Quan điểm của Vô Trước
Bây giờ, luận điển tiếp chúng ta thấy là A tỳ đạt ma tập luận (hay Bản tóm tắt
A tỳ đạt ma) của Vô Trước – và đây là một bộ luận Đại thừa, đặc biệt Duy tâm luận
(Chittamatra). Tất cả những người Tây Tạng và Trung Hoa cũng học hỏi nó, vì thế
họ học hai bộ luận quan trọng này của a tỳ đạt ma. Và ở đây nó chỉ cho danh
sách, mà không nói tỉ mỉ. Tương tự như trong bình luận chính của Ấn Độ - vì nó
là những danh sách về những đối tác không thích đáng, không chi tiết. Nó chỉ
nói về danh sách đó, và rằng không nghi ngờ gì nữa nó liên hệ đến danh sách
tiêu chuẩn về những người đàn bà. Phần không thích đáng trên thân thể, mà không
chi tiết; nơi chốn không thích đáng; thời gian không thích đáng – không chi tiết.
Nhưng nó thêm ba đặc trưng nữa, những điều chúng ta không tìm thấy trước đây.
“Đo lường không thích đáng” và điều ấy không được giải thích. Không chỉ ở Tây Tạng,
với Gampopa, mà quý vị có một sự giải thích về điều ấy, đấy là hơn năm lần liên
tục trong một lúc. Thứ đến là “hành vi áp dụng không thích đáng,” và một lần nữa,
điều này không được chi tiết hóa, và chỉ về sau Gampopa giải thích điều này như
ý nghĩa đánh đập một người – cũng như tình dục bạo hành – và có hành vi tình dục
bằng áp lực – cũng như hãm hiếp. Điều thứ ba được thêm vào là – và bây giờ điều
này đặc biệt cho đàn ông – tất cả những người đàn ông hay những người đàn ông bị
thiến, hoạn quan, thái giám. Vì thế điều này là lần đầu tiên và thật sự chỉ đề cập
rõ ràng về đồng tính luyến ái trong tất cả những luận điển của Ấn Độ mà chúng
tôi đã lưu ý.
Quan điểm của Mã
Minh (Aśvaghoṣa)
Sau đó chúng ta có hai luận điển sau này, một do Mã Minh (Ashvaghosha) và một bởi
A Để Sa (Atisa), và điều này là hoàn toàn vào thời kỳ muộn màng của Phật giáo Ấn
Độ. Và Mã Minh nói lần nữa “nơi chốn không thích đáng,” và ngài chi tiết thêm một
ít: Cũng là nơi có kinh sách Pháp bảo; nơi có bảo tháp; tượng Phật; nơi những vị
Bồ tát đang cư ngụ; trước mặt vị trụ trì hay vị thầy của quí vị hay cha mẹ của
quý vị. “Thời gian không thích đáng” – ngài bổ xung, thêm nữa đến sự thai nghén
và nuôi dưỡng và một ngày thệ nguyện, nó thêm khi người đàn bà đang thời kỳ
kinh nguyệt, khi bà ta bệnh, và khi bà ta sầu khổ tinh thần vô hạn. Thí dụ, bà
có thể trong thời kỳ tang chế cho ai chết. Vì thế một lần nữa chúng tôi nghĩ
chúng ta có thể thấy rằng sẽ rất khó khăn để nói rằng điều này đã được thêm vào
như điều gì ấy đúng là được tạo nên và mới, nhưng điều sẽ rõ ràng trong toàn bộ
ý nghĩa của việc cố gắng để làm giảm thiểu tối đa khối lượng rắc rối và khổ đau
mà quý vị tạo nên.
Sau đó cho những phần không thích đáng trên thân thể, thêm nữa đến hậu môn và
miệng, là lần đầu tiên Mã Minh thêm vào nữa. Ngài bổ xung giữa cặp đùi người đối
tác, và với bàn tay, cũng như thủ dâm. Đây là lần đầu tiên mà điều đó được đề cập
ở đây, và điều hấp dẫn là dường như một lần nữa được thêm như điều song song đến
những gì chúng ta tìm thấy trong giới luật của tăng và ni, bởi vì ở đấy những
gì chúng ta tìm thấy là quý vị có hai loại thệ nguyện khác nhau. Một thệ nguyện,
nếu quý vị phạm nó, trường hợp ấy gọi là một “sự thất bại” (pham-pa) – quý vị
không còn là một vị sư thầy hay sư cô nữa. Và đây là có hành vi tình dục với một
trong ba nơi: âm hộ, hậu môn, và miệng. À, đối với một vị sư thầy hay sư cô chúng
sẽ rõ ràng bao gồm âm hộ bất cứ giá nào, vì họ không có bất cứ một đối tác tình
dục nào, nhưng miệng và hậu môn cũng được bao gồm ở đây. Và có một loại thệ
nguyện khác nữa, điều ấy không phải ở giữa cặp đùi hay với bàn tay quý vị, và
điếu ấy ít nặng nề hơn. Nếu quý vị vẫn được duy trì với thệ nguyện như một căn
bản cho sự rèn luyện trong nguyên tắc đạo đức hay giới luật, nhưng thệ nguyện
đã bị yếu kém.
Điều này phù hợp với sự phân chia trong thái độ tình dục không thích đáng giữa
hạnh kiểm độc thân và không độc thân mà chúng ta đã đề cập trong sự liên hệ đến
những học nhân tâm linh trong truyền thống Ấn Độ. Dĩ nhiên, sư thầy và sư cô thệ
nguyện tránh tất cả mọi thái độ tình dục, cả không thích đáng và cũng như loại
gọi là “thích đáng”. Tuy nhiên, trong thái độ tình dục không thích đáng, nó ít
nặng nề đối với họ phạm phải hành vi tình dục độc thân như thủ dâm, hơn người
không độc thân bởi việc có hành vi tình dục qua âm hộ, miệng hay hậu môn với ai
đấy.
Mã Minh không đề cập một cách đặc biệt đến đồng tính luyến ái. Nhưng nếu hậu
môn và miệng và tay và đùi đã bị loại, nên không còn gì nhiều cho thái độ tình
dục đồng tính luyến ái. Bây giờ, một lần nữa, người ta không nên tiếp cận tất cả
những điều này trong những dạng thức của một luật sư, và cố gắng để tìm lỗ hổng
để vòng quanh điều này để tìm ra cách nào đấy, “À, họ không nói đến bên dưới
cánh tay quý vị, nên điều ấy okay.” Vì thế một lần nữa chúng ta cần dùng sự tỉnh
thức phân biệt sáng suốt của chúng ta ở đây. Và sau đó cũng có một danh sách bảo
vệ bởi những người khác.
Quan điểm của A Để Sa
A Để Sa có cùng một danh sách cho “nơi chốn không thích đáng” như Mã Minh, như
chỉ thêm “trong một nơi mà người ta làm lễ cúng dường (puja)” như một nơi không
thích đáng. Cho “thời gian không thích đáng”, ngài thêm đến danh sách “trong ngày”
(during the day) và “chống lại ước vọng của ai đấy.”
Và cho “phần không thích đáng của thân thể,” nó giống như
Mã Minh, nhưng ngài bỏ phần giữa đùi và thay vào đấy là “với trẻ con,” và nói,
“Phía trước hay phía sau đứa bé trai hay bé gái.” Bây giờ, điều này rõ ràng bởi
vì sự đánh vần sai trong văn bản. Sự khác nhau giữa Mã Minh và A Để Sa rõ ràng
phát sinh do bởi lỗi chính tả. Một mẫu tự khác nhau trong chữ “đùi” và “trẻ
con.” Trẻ con bao gồm trong danh sách ‘những đối tác không thích đáng,” nhưng ở
đây nó rơi vào với “phần không thích đáng của thân thể” nên rõ ràng do lỗi của
người cầm bút. Và sau đấy người Tây Tạng tra nghĩa đen của nó và cũng chi tiết
lại.
“Đối tác không thích đáng” – [ngài] không đề cập những người đàn ông, nhưng điều
ấy sẽ được bao gồm việc quý vị có lấy hậu môn, miệng và tay hay không. Và ngài
thêm những động vật. Do thế, điều ấy không có nghĩa rằng cho đến bây giờ có
hành vi tình dục với con lừa là okay, mà từ bây giờ trở đi thì không okay.
Quan điểm của Geshe Sharawa
Vì vậy, quý vị có thể thấy có một sự tiến hóa nơi đây ở Ấn
Độ, và nó trở nên thú vị hơn khi nó qua Tây Tạng, Trong thời kỳ sớm sủa nhất
chúng ta thấy là Gampopa, trong Tràng Hoa Quý Báo của Giải Thoát của ông. Nó là
một luận bản của Kagyu. “Đối tác không thích đáng” danh sách tiêu chuẩn của những
loại phụ nữ khác nhau. “Những phần không thích đáng của thân thể” – tất cả ngài
nói là miệng, và hậu môn; ngài không nói bàn tay và đùi. “Nơi chốn không thích
đáng” – [ngài] thêm “nơi nhiều người tụ hội.” Sau đó, “thời gian không thích
đáng” – “khi thấy được”.
Bây giờ, “khi thấy được,” điều này la thú vị bởi vì rồi thì chúng ta thấy rằng
có hai cách có thể diễn dịch “Khi thấy được.” Thế Thân diễn giải như phía bên
ngoài, ngoài cửa, khi bạn có thể trông thấy được. A Để Sa cho là nghĩa ban
ngày, điều này dĩ nhiên là rất khác biệt nếu bạn làm cả đêm và có một người phối
ngẫu. Và Tông Khách Ba chỉ ra rằng A Để Sa hiểu sai những chữ này; khi nó liên
hệ đến ngoài cửa, nó không liên hệ đến ban ngày.
Vì thế, một lần nữa, chúng ta có thể thấy, có một vài sự không nhất quán ở đây
đã hiện hữu, và rất thường nó đã đến từ sự bạn hiểu những từ ngữ thế nào?
Gampopa lược bỏ đi trường hợp khi người ấy bệnh, hay có nổi buồn tinh thần, hay
khi họ không muốn có chuyện ấy; ngài không đề cập nó. Nhưng ngài chi tiết trên
những gì chúng ta có trong A tỳ đạt ma tập luận – đo lường, ngài nói, là hơn
năm lần trong một hàng liên tục, điều ấy khó khăn để hiểu. Đặc biệt nếu tiêu
chuẩn của chúng ta ở đây đang tăng lên những cảm xúc phiền não, tôi muốn nói là
ai đấy có thể có năm lần liên tục hay bốn lần - bốn lần thì okay, năm lần thì
không – sự ám ảnh với tình dục mà họ có là bao nhiêu?
Một lý thuyết mà tôi đã nghe để giải thích vấn đề này liên quan đến một vị vua
với hậu cung nhiều bà vợ - điều ấy okay, cũng thế, quý vị có thể có nhiều vợ bởi
vì tất cả họ đều thuộc về quý vị - vì thế không xúc phạm vị vua người có thể có
nhiều vợ và vì thế rõ ràng có thể có chuyện ấy nhiều lần trong một đêm. Thế thì
nó được đặt quy định thế này. Nhưng điều đó chỉ là một sự phõng đoán của ai đấy.
Đối với “bộ phận cơ thể không thích hợp”, Geshe Sharawa
tuân theo danh mục do Atisha đưa ra.
Đối với “đối tượng không thích hợp”, ông trình bày danh
sách tiêu chuẩn, trong đó bao gồm:
- người
hành nghề mại dâm (với điều kiện người đó là người mà chính chúng ta đã trả tiền),
- những
người có quan hệ huyết thống trong vòng bảy đời.
Ngoài ra:
- giống
như Atisha, Geshe Sharawa không liệt kê nam giới vào danh sách đối tượng không
thích hợp;
- nhưng
khác với Atisha, ông cũng không đề cập đến việc giao hợp với động vật.
Nói cách khác, Geshe Sharawa kế thừa phần lớn quan điểm của
Atisha về các đối tượng không nên quan hệ tình dục, nhưng có hai điểm khác biệt
đáng chú ý: (1) ông không coi nam giới là một mục riêng trong danh sách cấm (giống
Atisha), và (2) ông không nhắc đến động vật như một đối tượng bị cấm (khác với
Atisha).
Quan điểm của Gampopa
Gampopa, một người đương thời với Geshe Sharawa, trình
bày chi tiết hơn về hành vi tình dục không thích hợp trong tác phẩm thuộc truyền
thống Kagyu thời kỳ đầu của ông, Jewel Ornament of Liberation (Bảo
Châu Giải Thoát). Đối với "đối tượng không thích hợp"
(inappropriate partner), ông đưa ra danh sách tiêu chuẩn gồm các loại phụ nữ
không được quan hệ tình dục. Đối với "bộ phận cơ thể không thích hợp"
(inappropriate part of the body), điều duy nhất ông nêu là miệng hoặc hậu môn của
một người nam hoặc một hoạn nhân (eunuch/paṇḍaka). Đối với "địa điểm không
thích hợp" (inappropriate place), ông bổ sung thêm một trường hợp là:
"nơi có nhiều người tụ tập." Cuối cùng, trong danh sách "thời điểm
không thích hợp" (inappropriate time), ông còn thêm trường hợp "khi
có thể bị người khác nhìn thấy" (when visible), tức là khi việc
quan hệ diễn ra ở nơi công khai hoặc trong hoàn cảnh dễ bị người khác chứng kiến.
Bây giờ, cụm từ “khi có thể bị nhìn thấy” (when visible)
khá thú vị, bởi vì có hai cách diễn giải khác nhau về cụm từ
này. Vasubandhu hiểu cụm từ này là ở bên ngoài, ngoài trời, tức là ở
nơi người khác có thể nhìn thấy chúng ta. Trong khi đó, Atisha lại hiểu nó
là vào ban ngày. Dĩ nhiên, cách hiểu này dẫn đến một vấn đề thực tế: nếu một
người phải làm việc suốt đêm và chỉ có thể ở bên người bạn đời vào ban ngày,
thì theo cách giải thích ấy họ sẽ luôn rơi vào trường hợp "không thích hợp". Tsongkhapa chỉ
ra rằng Atisha đã hiểu sai cụm từ này. Theo Tsongkhapa, “when visible” phải được
hiểu là ở ngoài trời hoặc nơi công khai, nơi người khác có thể nhìn thấy, chứ
không phải là vào ban ngày.
Gampopa không đề cập đến các trường hợp sau đây là thời
điểm không thích hợp để quan hệ tình dục:
- khi
người bạn tình đang bị bệnh,
- khi
họ đang đau buồn hoặc khổ sở về tinh thần,
- khi
họ đang trong thời kỳ kinh nguyệt,
- hoặc
khi họ không mong muốn quan hệ tình dục.
Thay vào đó, ông bổ sung một tiêu chí mới là “quá mức”
(excessive measure), tức là quan hệ tình dục một cách quá độ hoặc không biết tiết
chế.
Ngoài ra, Gampopa còn giải thích chi tiết hơn về tiêu chí
“hành vi được thực hiện” (action applied). Theo đó, ông đề cập đến những hành
vi như:
- đánh
đập, hoặc
- dùng
vũ lực để ép buộc,
coi đây là những hình thức hành vi tình dục sai trái.
Nói cách khác, Gampopa không chỉ quan tâm đến đối tượng,
thời gian, địa điểm và bộ phận cơ thể liên quan đến hành vi tình dục, mà còn nhấn
mạnh đến cách thức thực hiện hành vi, đặc biệt là việc tránh mọi hình thức bạo
lực hoặc ép buộc trong quan hệ tình dục.
Quan điểm của Longchenpa
Longchenpa, vị đại sư của truyền thống Nyingma thời kỳ đầu,
trong tác phẩm theo thể loại Lam-rim (Các giai đoạn của con đường tu tập) mang
tên Rest and Restoration in the Nature of the Mind (đã được dịch sang tiếng Anh
với nhan đề Kindly Bent to Ease Us), chỉ liệt kê các loại phụ nữ không thích hợp
để quan hệ, giống như truyền thống Theravāda Pāli.
Quan điểm của Tsongkhapa
Trong tác phẩm Lam-rim Chen-mo của Tsongkhapa, một văn bản
tiêu biểu của truyền thống Gelug thời kỳ đầu, khi bàn về “đối tượng không thích
hợp” (inappropriate partner), ông đưa ra danh sách tiêu chuẩn về những hạng phụ
nữ không được quan hệ tình dục. Ngoài ra, ông không chỉ liệt kê những người
phụ nữ đang được mẹ bảo hộ, mà còn chính người mẹ cũng được đưa vào danh sách cấm.
Đây là lần đầu tiên trong các bản trình bày được khảo sát xuất hiện sự đề cập
rõ ràng đến loạn luân (incest).
Ông cũng bổ sung vào danh sách này:
- tất
cả nam giới, bao gồm cả bản thân mình và những người nam khác;
- những
người đàn ông đã bị hoạn (castrated men).
Đối với “bộ phận cơ thể không thích hợp” (inappropriate
part of the body), Tsongkhapa cho rằng bất kỳ bộ phận nào ngoài âm đạo đều là
không thích hợp. Để giải thích quan điểm này, ông trích dẫn các trước tác của
Aśvaghoṣa (Mã Minh) và Atisha, nhằm xác định cụ thể những bộ phận nào thuộc phạm
vi này.
Đối với “nơi không thích
hợp”, Tsongkhapa tuân theo danh sách của Geshe Sharawa. Sau đó, về “thời điểm
không thích hợp”, ông bỏ qua trường hợp người phụ nữ không muốn. Về việc người
phụ nữ mang thai, ông giải thích mang thai có nghĩa là giai đoạn cuối của thai
kỳ, tức là ba tháng cuối. Đây là một cụm từ rất giống với từ “trăng tròn” trong
tiếng Tây Tạng. Ông đang nói về “trăng tròn” của thai kỳ. Một số dịch giả đã dịch
sai điều này, và điều này đã trở nên phổ biến ở phương Tây, rằng việc quan hệ
tình dục vào đêm trăng tròn là không thích hợp. Mặc dù trong Mật điển Thời Luân
(Kalachakra Tantra) có đề cập đến một loại năng lượng nhất định lưu thông trong
cơ thể trong suốt chu kỳ mặt trăng, và vào mỗi ngày trong chu kỳ mặt trăng,
năng lượng đó tập trung ở một phần khác nhau của cơ thể. Vào đêm trăng tròn,
năng lượng đó tập trung ở nơi có thể đi vào kinh lạc, và do đó kinh lạc khuyên
không nên quan hệ tình dục vào ngày đó vì khi đó năng lượng sẽ thoát ra ngoài
thay vì có thể hòa tan vào kinh lạc. Rõ ràng điều đó đang đề cập đến những người
đang ở giai đoạn thực hành mà điều này sẽ tạo ra sự khác biệt, điều này dẫn đến
một chủ đề khác, nhưng hãy để tôi kết thúc những gì Tsongkhapa nói trước khi đi
vào vấn đề đó.
Khác với Gampopa,
Tsongkhapa không đề cập gì đến việc đánh đập hay ép buộc ai đó quan hệ tình dục
Quan điểm của Dza Patrul
Trước khi quay lại với
điều tôi muốn nói về tantra, tôi muốn đề cập đến văn bản cuối cùng, đó là văn bản
Nyingma sau này của Dza Patrul, có tựa đề "Lời dạy của vị Thầy quý giá của
tôi". Đối với "những người không phù hợp", ngoài danh sách thông
thường gồm vợ của người khác và phụ nữ dưới sự giám hộ của người khác, ông ấy
chỉ rõ là các bé gái chưa đến tuổi dậy thì. Ông ấy không đề cập đến đàn ông hay
thái giám nhưng lại chỉ rõ là thủ dâm. Đối với "thời điểm không phù hợp",
ông ấy thêm vào danh sách thông thường là phụ nữ ngay sau khi sinh con và, theo
Atisha, bao gồm cả ban ngày. "Nơi không phù hợp" cũng là danh sách
tiêu chuẩn, nhưng không đề cập đến trên nền đất đá hoặc cứng. Đối với "bộ
phận cơ thể không phù hợp", ông ấy chỉ đưa ra miệng, hậu môn và bàn tay.
4- Phân Tích Sự Tiến Hóa
Của Hành Vi Tình Dục Không Phù Hợp
Tóm lại, từ lịch sử và
khảo sát này, chúng ta có thể thấy rằng có rất nhiều biến thể về những gì cấu
thành hành vi tình dục không phù hợp. Một lần nữa, điều đó có nghĩa là những bậc
thầy này đang bổ sung thêm vào danh sách ban đầu về những gì không phù hợp? Liệu
tất cả những gì họ bổ sung đều mang ý nghĩa ngầm định? Có lúc, tôi nghĩ có lẽ
chúng ta có thể nói rằng đạo đức tình dục mang tính đặc thù văn hóa; nói cách
khác, chúng phụ thuộc vào văn hóa. Trong văn hóa của chúng ta, ngoại tình, tức
là không chung thủy với vợ hoặc chồng, là không phù hợp, mặc dù điều đó không
bao giờ được đề cập trong các kinh điển Phật giáo. Hơn nữa, các kinh điển Phật
giáo được viết từ quan điểm của những người đàn ông ở Ấn Độ cổ đại, những người
kết hôn ở tuổi mười hoặc mười hai, vì vậy chúng không đề cập đến tình huống của
người trưởng thành độc thân, trừ khi họ là tăng ni. Tuy nhiên, khi tôi thảo luận
điều này với các vị Geshes, họ nói rằng không thể nào đạo đức tình dục Phật
giáo lại mang tính đặc thù văn hóa. Bởi vì nếu nó mang tính đặc thù văn hóa,
thì hành vi tình dục không phù hợp sẽ thuộc loại hành vi bị cấm và không được
tán dương – những hành vi không được tán dương chỉ đối với một nhóm người nhất
định – chứ không phải đối với tất cả mọi người. Nhưng hành vi tình dục không
phù hợp vốn dĩ là một hành vi không được tán dương. Vì vậy, việc cho rằng chúng
ta có thể sử dụng các tiêu chí về tính đặc thù văn hóa để xác định điều gì là
phù hợp và không phù hợp là không chính xác.
Tiêu chí duy nhất có giá
trị là có rất nhiều điều ngầm ẩn trong cách diễn đạt ban đầu, và tất cả những
điều đó đang được làm rõ trong các bài bình luận. Thay vì bỏ qua một số điều mà
chúng ta không thích vì chúng ta gắn bó với hình thức hành vi tình dục đó, có lẽ
chúng ta có thể bổ sung thêm – cụ thể là không chung thủy với vợ hoặc chồng, bị
ép buộc làm gái mại dâm, cố ý truyền bệnh lây truyền qua đường tình dục – AIDS
hoặc bất cứ bệnh nào khác. Có rất nhiều điều có thể được mở rộng mà chúng ta có
thể nói là cũng ngầm ẩn trong cách diễn đạt đó.
Tôi đã có những cuộc thảo
luận dài về vấn đề này với Geshe Wangchen; ông là thầy dạy của hóa thân
Yongdzin Ling Rinpoche, giáo thọ cao cấp của Đức Đạt Lai Lạt Ma, điều đó có
nghĩa là ông là người uyên bác nhất trong tất cả các Geshe thuộc truyền thống
Gelug. Ông đã sử dụng một phép so sánh, rằng nếu chúng ta có một vườn cây ăn quả
và muốn bảo vệ nó, thì chúng ta sẽ rào chắn xung quanh nó ở một khoảng cách lớn,
chứ không chỉ trực tiếp xung quanh cây. Bởi vì, bằng cách thiết lập một khu vực
an toàn rộng lớn xung quanh, thì chúng ta sẽ bảo vệ được những cây bên trong tốt
hơn. Vì vậy, bằng cách thiết lập một phạm vi rất rộng cho hành vi tình dục
không phù hợp, chúng ta đảm bảo rằng nếu không thể tránh được mọi thứ đã được
quy định, thì ít nhất chúng ta sẽ tránh làm hại những cây ăn quả ở giữa, đó là
quan hệ tình dục với bạn đời của người khác, bởi vì điều đó được đề cập trong mọi
văn bản.
Tại sao “vườn cây ăn quả”
trong phép ẩn dụ của ông lại được ví như việc quan hệ tình dục với bạn đời của
người khác? Như kinh Pali đã nói, bởi vì điều đó có thể dẫn đến nhiều hành động
phá hoại khác: nói dối, giết người, trộm cắp, v.v. Ngược lại, thủ dâm sẽ không
dễ dàng dẫn đến những điều đó.
Toàn bộ ý tưởng ở đây là
chúng ta không muốn chỉ là động vật, để mỗi khi có ham muốn tình dục là chúng
ta lại hành động theo bản năng. Nói cách khác, chúng ta không muốn để bản thân
bị kiểm soát bởi ham muốn tình dục, bất kể điều gì. Điều chúng ta muốn làm, nếu
chúng ta hướng đến sự giải thoát khỏi những cảm xúc phiền nhiễu, là đặt ra một
số giới hạn. Bất kỳ giới hạn nào chúng ta đặt ra, điều đó đều rất tốt; điều đó
rất hữu ích. Ít nhất, chúng ta đang bắt đầu rèn luyện nhận thức phân biệt và tự
chủ.
5- Giới Nguyện Của Cư Sĩ
Nếu chúng ta định nguyện
giữ lời nguyện tránh hành vi tình dục không đứng đắn, thì điều đó được mô tả rất
rõ ràng trong các văn bản Tây Tạng. Cho dù đó là phiên bản của Gampopa,
Tsongkhapa, hay Dza Patrul – tôi chưa tìm thấy phiên bản của phái Sakya, nhưng
chắc hẳn cũng tương tự – tất cả đều giống nhau. Chỉ vì Gampopa không đề cập rõ
ràng đến thủ dâm, chúng ta có thể nghĩ rằng nếu thích điều đó, chúng ta sẽ nguyện
với một vị lạt ma Kagyu chứ không phải một vị lạt ma Gelugpa; đó không phải là
cách đúng. Vấn đề là nếu chúng ta nguyện, thì đó là toàn bộ lời nguyện. Chúng
ta không thể đưa ra cách hiểu riêng của mình và chỉ chọn những phần mình thích
rồi bỏ đi những phần mình không thích. Có một lời nguyện bồ tát cụ thể chống lại
điều đó.
Tôi cũng cần lưu ý rằng có
hai cấp độ lời nguyện của cư sĩ: lời nguyện có giữ trinh tiết và lời nguyện
chung không giữ trinh tiết. Lời nguyện chung tránh hành vi tình dục không đứng
đắn không loại trừ hành vi tình dục đứng đắn với bạn đời khác giới của mình.
Nhưng hành vi đó cũng bị loại trừ đối với người nguyện giữ trinh tiết, trong
khi một cư sĩ giữ trinh tiết (tshangs-spyod dge-bsnyen) thêm việc quan hệ tình
dục qua bất kỳ lỗ nào trong ba lỗ của bất kỳ ai, kể cả bạn đời của mình, vào
danh sách các hành vi tình dục không đứng đắn mà anh ta tránh. Thực ra, nếu muốn
chính xác hơn, một cư sĩ giữ trinh tiết thêm việc quan hệ tình dục qua âm đạo với
bạn đời của mình vào danh sách các hành vi tình dục không đứng đắn; việc quan hệ
tình dục bằng miệng hoặc hậu môn với bất kỳ ai, dù là bạn đời của người khác
hay của chính mình, đều đã là không đứng đắn rồi.
Theo Abhidharma, có ba
loại kiềm chế mà chúng ta có thể cam kết tuân giữ. Thứ nhất là lời nguyện, hay
sự kiềm chế đã nguyện, cụ thể là kiêng tránh một số loại hành vi phá hoại hoặc
hành vi bị cấm đoán và không được tán thành. Thứ hai là sự bất kiềm chế đã
tuyên bố, với đó chúng ta cam kết luôn thực hiện một hành động phá hoại, ví dụ
như khi gia nhập quân đội, “Tôi sẽ luôn giết người”. Thứ ba là sự kiềm chế
trung gian, chẳng hạn như cam kết tránh một số loại hành vi tình dục không phù
hợp, nhưng không phải toàn bộ. Đây là cách Geshe Wangchen giải thích. Chúng ta
không cần phải thực hiện toàn bộ lời nguyện, nhưng chúng ta có thể tránh, ví dụ,
quan hệ tình dục với bạn đời của người khác, nhưng không phải thủ dâm, quan hệ
tình dục bằng miệng hoặc bất cứ điều gì chúng ta thích. Vì vậy, chúng ta thực
hiện một trong những “lời nguyện trung gian” này. Điều đó không tạo ra một động
lực tích cực mạnh mẽ như khi chúng ta thực hiện toàn bộ lời thề, nhưng nó tạo
ra một động lực tích cực hơn nhiều so với việc chúng ta không thực hiện bất kỳ
lời thề nào và chỉ tránh một loại hành vi tình dục cụ thể nào đó đôi khi.
6- Mật tông (Tantra)
Giờ, nói về tantra, điểm
mà tôi muốn nhấn mạnh về đạo đức tình dục là tình dục vốn dĩ không được khuyến
khích vì nó làm gia tăng những cảm xúc khó chịu. Trong cấp bậc cao nhất của
tantra, anuttarayoga, hoặc trong hệ thống Nyingma, cụ thể hơn tôi cho rằng đó
là anuyoga, dục vọng được sử dụng như một phần của con đường tu tập. Tuy nhiên,
ở đó, người ta nói "sử dụng dục vọng để tiêu diệt dục vọng". Đó là cụm
từ được sử dụng lặp đi lặp lại nhiều lần.
Tại sao lại như vậy? Trước
hết, loại thực hành này chỉ được phép thực hiện khi chúng ta cực kỳ, cực kỳ tiến
bộ. Đó là khi chúng ta đã đạt được zhinay[1] hoàn hảo,
một trạng thái tâm trí tĩnh lặng và ổn định, shamatha (chỉ), sự tập trung hoàn
hảo; và, tất nhiên, bồ đề tâm và sự hiểu biết đúng đắn về tánh không, sự từ bỏ
– tất cả những điều đó. Chúng ta đã làm chủ thực hành giai đoạn phát sinh với
những hình dung phức tạp, và, với các thực hành giai đoạn hoàn chỉnh, chúng ta
đã kiểm soát được các luồng năng lượng trong cơ thể, có được khả năng hình dung
hoàn hảo các kênh năng lượng từ sự làm chủ giai đoạn phát sinh của chúng ta.
Chúng ta đã làm chủ mọi thứ một cách hoàn hảo đến nỗi, với sự kiểm soát hoàn
toàn các luồng năng lượng, không có nguy cơ nào bị cực khoái. Chúng ta không phải
là người mới bắt đầu cố gắng kiểm soát năng lượng và chỉ làm cho bản thân bị bệnh
với các vấn đề về tuyến tiền liệt và vân vân, vì không đủ điều kiện để thực
hành loại này. Một khi chúng ta đạt đến giai đoạn làm chủ này và đã hòa tan hầu
hết các luồng năng lượng vào luân xa tim trong kênh trung tâm, thì mới được
phép thực hành với một người bạn để hòa tan các luồng năng lượng còn lại. Đây
không phải là tình dục thông thường, mà là một loại yoga đặc biệt nhằm tạo ra
trạng thái nhận thức an lạc, giúp xua tan những luồng năng lượng tiêu cực này.
Hãy nhớ rằng, chúng ta
đã có thể hòa tan các luồng năng lượng khác vào kênh trung tâm, và điều này đặc
biệt là để hòa tan những luồng năng lượng khó hòa tan nhất, nằm ở cấp độ da, để
chúng ta có thể đạt đến và tiếp cận cấp độ tâm tịnh quang (tâm
ánh sáng thanh tịnh) bằng cách hòa tan tất cả những năng lượng này. Chính những
năng lượng này, những luồng năng lượng này, mang theo những cảm xúc phiền não,
vì vậy đây là cách chúng ta có thể loại bỏ dục vọng. Khi chúng ta hòa tan những
luồng năng lượng mang theo chúng, chúng ta loại bỏ được dục vọng và những cảm
xúc phiền não khác cũng như cấp độ Tâm phân biệt (tâm khái niệm). Mang theo sự hiểu biết về hư không mà
chúng ta đã đạt được, chúng ta có sự hiểu biết về hư không đó cùng với tâm
tịnh quang – tâm ánh sáng thanh tịnh đầy an lạc – và với đủ sự quen
thuộc với trạng thái tâm trí đó, và sở hữu nó, chúng ta sẽ có thể duy trì ở đó
mãi mãi, và đó là giác ngộ.
Chúng ta tuyệt đối không
nên nghĩ rằng tình dục trong tantra, được thể hiện qua hình ảnh cặp đôi hòa hợp
trong tranh tantra, có liên quan gì đến tình dục thông thường. Trên thực tế, nếu
chúng ta cho rằng tình dục thông thường là con đường dẫn đến giải thoát và giác
ngộ, đó là vi phạm một trong những lời thề cốt lõi của tantra. Vì vậy, nếu
chúng ta muốn có quan hệ tình dục thông thường, hãy cứ quan hệ và thực tế về điều
đó. Đừng nghĩ đó là một hành động tâm linh vĩ đại và nếu đạt được cực khoái
hoàn hảo thì đó chính là giác ngộ.
Ngoài ra, còn có những lời
thề Tantra không được xuất tinh – thường được gọi là “tinh dịch hoa nhài” hay
“tinh dịch mặt trăng” hoặc đại loại như vậy – có nghĩa là không được đạt cực
khoái. Điều này áp dụng cho cả nam và nữ, nên không chỉ đề cập đến xuất tinh ở
nam giới. Nó đề cập đến trường hợp khi chúng ta đã đạt đến trình độ rất cao –
giống như điều chúng ta đã nói trước đó ở giai đoạn hoàn thiện, và chúng ta có
thể đưa tất cả các luồng năng lượng vào kênh trung tâm – chúng ta không muốn đạt
cực khoái mà chỉ khiến tất cả các luồng năng lượng bị đẩy ra ngoài cơ thể. Nếu
điều đó xảy ra, chúng ta sẽ mất cơ hội đưa những luồng năng lượng này vào kênh
trung tâm. Vì vậy, chúng ta không nói về các giai đoạn thực hành trước đó; mà
chính ở giai đoạn thực hành này, loại thực hành này mới có liên quan.
7- Các Yếu Tố ảnh Hưởng
Đến Kết Quả Nghiệp Quả
Còn một điều nữa tôi muốn
giải thích. Nguyên tắc chung về đạo đức tình dục là – nếu chúng ta chưa sẵn
sàng trở thành tăng ni – thì hãy cố gắng giảm thiểu bất kỳ khía cạnh nào gây rắc
rối trong hành vi tình dục của mình; nói cách khác, bất kỳ khía cạnh nào có thể
khiến các vấn đề phát sinh trở nên nghiêm trọng hơn. Vì vậy, có những yếu tố
liên quan đến việc làm cho kết quả nghiệp quả đầy đủ hoặc trọn vẹn, và một danh
sách khác về việc làm cho chúng trở nên nặng nề.
Nhìn chung, phải có một
cơ sở nào đó, vì vậy nếu đó là người tình của người khác, thì phải có sự nhận
biết rõ ràng để biết đó là người tình của người khác. Tuy nhiên, trong một số
văn bản, có nói rằng nếu người phụ nữ là người tình của người khác và cô ta nói
dối, không nói cho bạn biết, thì đó vẫn là một vấn đề vì nếu ai đó phát hiện
ra, rõ ràng sẽ có rắc rối lớn. Trong một số bình luận, người ta nói rằng đó vẫn
là một lỗi lầm, ngay cả khi chúng ta không nhận ra đúng.
Mặc dù không được đề cập
rõ ràng trong các văn bản, nhưng dường như, xét về cơ sở của hành vi tình dục
không đứng đắn, đối với nam giới, hành vi tình dục không đứng đắn với một người
đàn ông khác ít nghiêm trọng hơn so với với một người phụ nữ, và với chính mình
ít nghiêm trọng hơn so với với một người đàn ông khác. Tôi suy luận điều này từ
giới điều thứ hai trong số các giới điều còn lại của các nhà sư, đó là tránh đụng
chạm vào thân thể hoặc tóc của phụ nữ với dục vọng. Đối với một nhà sư, việc đụng
chạm vào thân thể hoặc tóc của một người đàn ông với dục vọng được coi là tương
tự như một giới điều còn lại, nhưng không phải là một điều răn hoàn toàn. Nó
làm suy yếu giới nguyện của nhà sư, nhưng không nhiều bằng việc đụng chạm vào một
người phụ nữ với dục vọng. Như chúng ta cũng đã thấy từ các giới điều của các
nhà sư, việc tự thỏa mãn tình dục bằng tay là một giới điều còn lại, trong khi
việc quan hệ tình dục thông qua các bộ phận sinh dục của người khác là một sự
thất bại và dẫn đến việc mất đi lời thề của mình.
Vậy thì, để nó được coi
là một thất bại, phải có ý định thúc đẩy, và một trong những cảm xúc khó chịu
phải liên quan, và hành động phải diễn ra – hai cơ quan gặp nhau – và kết thúc
phải xảy ra, điều mà ban đầu tôi hiểu sai ý nghĩa của nó. Tôi nghĩ rằng nó có
nghĩa là cực khoái vì từ tiếng Tây Tạng có nghĩa là “hạnh phúc” hoặc “khoái lạc”,
nên tôi hiểu nó là “hạnh phúc của cực khoái”, và rất khó để hỏi một nhà sư Tây
Tạng xem nó thực sự có nghĩa là gì. Tuy nhiên, tôi đã thành công trong việc tìm
hiểu – một lần nữa, từ cuộc thảo luận về điều này trong giới luật – rằng nó thực
sự chỉ đề cập đến việc trải nghiệm khoái cảm khi các cơ quan sinh dục tiếp xúc.
Nếu chúng ta bị cưỡng hiếp, hoặc điều gì đó tương tự, và không có khoái cảm nào
liên quan, mà chỉ có đau đớn, thì hành động đó chưa hoàn thành.
Quan điểm này xuất phát
từ các văn bản giới luật Vinaya giải thích về các lời thề của tăng lữ. Để một vị
tăng lữ phạm tội vi phạm lời thề không có hành vi tình dục, người ấy chỉ cần cảm
nhận khoái cảm sau khi dương vật của mình đi vào bất kỳ lỗ nào trong ba lỗ sinh
dục và, trong trường hợp quan hệ tình dục qua âm đạo, khi nó chạm vào bộ phận
sinh dục của người phụ nữ. Tội vi phạm không nhất thiết đòi hỏi vị tăng lữ phải
đạt cực khoái hoặc xuất tinh. Tương tự, để một vị tăng lữ phạm tội thủ dâm, người
ấy chỉ cần cảm nhận khoái cảm khi tinh dịch đến gốc dương vật và, cũng giống
như tội vi phạm, người ấy không cần phải đạt cực khoái hoặc xuất tinh.
Tiếp theo, có những yếu
tố ảnh hưởng đến mức độ chín muồi của nghiệp. Yếu tố đầu tiên là bản chất của
hành động liên quan, và điều này xét về mức độ tổn hại gây ra cho bản thân hoặc
người khác nói chung bởi bản chất của hành động đó. Quan hệ tình dục bằng miệng
hoặc hậu môn nặng hơn nhiều so với thủ dâm, vì vậy có sự khác biệt ở đây. Điều
này cũng tương tự như giới nguyện của các nhà sư. Như chúng ta đã thấy, quan hệ
tình dục bằng miệng hoặc hậu môn cấu thành một sự thất bại, trong khi thủ dâm
chỉ là sự còn lại.
Một trong những yếu tố
quan trọng nhất là cường độ của cảm xúc tiêu cực liên quan – ham muốn và dục vọng
của chúng ta mạnh đến mức nào, hoặc sự tức giận của chúng ta ra sao. Đó có thể
là muốn làm tổn thương người khác, như cưỡng hiếp, hoặc chúng ta không nhất thiết
tức giận với người phụ nữ, nhưng lại muốn làm tổn thương chồng cô ấy, hoặc đại
loại như vậy, nên cường độ của sự tức giận đó rất quan trọng; hoặc cường độ của
sự ngây thơ, khi nghĩ rằng quan hệ tình dục với bất kỳ ai cũng được chấp nhận.
Yếu tố thứ ba là một động
lực méo mó, mạnh mẽ thúc đẩy chúng ta hành động. Điều đó có nghĩa là chúng ta
nghĩ rằng không có gì gây hại về loại hành vi không phù hợp này; rằng nó hoàn
toàn ổn, và chúng ta sẽ tranh luận với bất cứ ai nói điều ngược lại. Yếu tố tiếp
theo là hành động thực tế liên quan, đề cập đến mức độ đau khổ gây ra cho người
khác hoặc cho chính chúng ta khi hành động được thực hiện. Nếu chúng ta làm điều
đó bằng vũ lực, cưỡng hiếp, hoặc bạo dâm, thì điều đó còn tồi tệ hơn nhiều, và việc
làm tổn thương người khác bằng cách quan hệ tình dục trên nền đất cứng, nhiều
đá, khiến họ bị ốm.
Tiếp theo là cơ sở mà
hành động hướng đến: điều đó liên quan đến mức độ lợi ích mà chúng ta hoặc người
khác đã nhận được từ người này trong quá khứ, hiện tại hoặc tương lai – vì vậy,
quan hệ tình dục với mẹ của mình nặng nề hơn so với quan hệ với vợ người khác –
hoặc phẩm chất tốt đẹp của người đó, vì vậy quan hệ tình dục với một nữ tu nặng
nề hơn so với quan hệ với một phụ nữ bình thường. Điều tiếp theo là địa vị của
người kia, và điều đó đề cập đến việc nếu người đó ốm yếu, mù lòa, thiểu năng
trí tuệ hoặc là trẻ em, thì mức độ nặng nề sẽ cao hơn nhiều. Sau đó là mức độ
tôn trọng, đây là mức độ kính trọng mà người ta dành cho người này hoặc cho bạn
đời của họ. Quan hệ tình dục với vợ hoặc chồng của người bạn thân nhất của mình
nặng nề hơn nhiều so với quan hệ tình dục với vợ hoặc chồng của người lạ.
Tiếp theo là điều kiện hỗ
trợ, liệu chúng ta có lời thề tránh hành vi tình dục không phù hợp hay không; tần
suất, chúng ta làm điều đó bao nhiêu lần; số người liên quan: cưỡng hiếp tập thể
nặng hơn nhiều so với cưỡng hiếp đơn lẻ; hậu quả, liệu chúng ta có lặp lại hành
vi đó trong tương lai hay không; và cuối cùng là sự hiện diện, hoặc vắng mặt, của
các yếu tố đối trọng. Tội lỗi càng nặng hơn nếu chúng ta tìm thấy niềm vui
trong đó, nếu chúng ta không hối hận, nếu chúng ta không có ý định dừng lại, nếu
chúng ta không có ý thức về phẩm giá đạo đức của bản thân, hoặc không quan tâm
đến việc hành động của chúng ta ảnh hưởng đến người khác như thế nào. Nếu chúng
ta được cho là một người thực hành Phật pháp tuyệt vời, nhưng lại đến câu lạc bộ
tình dục hoặc những nơi tương tự, điều đó ảnh hưởng đến các bậc thầy của chúng
ta như thế nào? Điều đó ảnh hưởng đến việc thực hành Phật giáo của chúng ta như
thế nào?
8- Tóm Lại
Điểm mấu chốt ở đây
không phải là hành động một cách mù quáng theo cảm xúc khó chịu của chúng ta,
mà là phải có một nhận thức phân biệt nào đó, một sự hiểu biết nào đó về hành
vi tình dục của mình. Chúng ta không nên tự lừa dối bản thân – bất kỳ hành vi
tình dục nào cũng sẽ làm tăng ham muốn, và đó là điều trái ngược với việc cố gắng
giải thoát khỏi ham muốn. Vì vậy, chúng ta cần phải thành thật với chính mình:
“Tôi chưa đến giai đoạn sẵn sàng thực sự nỗ lực vì sự giải thoát. Tôi sẽ cố gắng
đặt ra ít nhất một số giới hạn, một số ranh giới trong những gì tôi làm.”
Tôi nghĩ nhiều người
trong chúng ta đều có những ranh giới hoặc giới hạn nhất định mà mình tự đặt
ra; chúng ta sẽ làm một số việc, nhưng cũng có những việc chúng ta sẽ không
làm, vì vậy điều này rất tốt. Hãy quyết đoán hơn về điều đó, và đối với hành vi
tình dục mà chúng ta có, hãy cố gắng giảm thiểu sự nặng nề của nó. Hãy nhớ rằng,
điều quan trọng nhất là cố gắng vượt qua việc bị chi phối một cách cưỡng chế bởi
dục vọng và ham muốn. Nếu chúng ta tuân theo những nguyên tắc chung đó, thì mặc
dù có thể không đạt được sự giải thoát ngay lập tức, nhưng ít nhất chúng ta
cũng đang đi đúng hướng để giảm thiểu vấn đề của mình./.
Ẩn Tâm Lộ, 26/07/2026
PHỤ THÍCH:
--***--.
[1] True stopping: loại trừ vĩnh viễn một mức độ nào đấy hoặc là một cảm xúc
hay một chướng ngại của nhận thức từ liên tục tâm. Chúng chỉ xãy ra trên trên
liên tục tâm của một thánh giả arya - - những người với nhận thức vô phân biệt
về tính không. Thường dịch là diệt đế.
[2] Discriminating awareness: nhân tố tinh thần quyết đoán phân biệt giữa những
gì đúng và những gì sai. Phân tích và quyết đoán. Tức là sự tỉnh thức phân biệt
hay tuệ giác.
[3] uncommendable actions (kha-na ma-tho-ba)
[4] naturally uncommendable (rang-bzhin kha-na ma-tho-ba)
[5] prohibited uncommendable (bcas-pa’i kha-na ma-tho-ba)
[6] [1] Zhinay: Nghĩa
là "An trú trong sự tĩnh lặng" (Calm abiding)/ thiền chỉ
No comments:
Post a Comment