Monday, November 10, 2014

NGHIỆP BÁO: Giới Thiệu Tổng Quát

NGHIỆP BÁO:  Giới Thiệu Tổng Quát

Tác giả: Alexander Berzin - Chuyển ngữ: Tuệ Uyển


1 – Bốn chân lý trong ngôn ngữ hằng ngày
2 – Nghiệp báo đối diện với nhân quả hành trạng
3 – Một vài hệ thống giải thích nghiệp báo
4 – Nghiệp báo như một nhân tố tinh thần của một sự thôi thúc
5 – Những ảnh hưởng của thái độ nghiệp báo
6 – Hạnh phúc và bất hạnh
7 – Thái độ xây dựng và tàn phá
8 – Thuyết quyết định hay tự do ý chí
9 - Mê muội về nguồn gốc của nghiệp báo
10 – Giải thoát sự mê muội của chúng ta
11 – Những lời kết luận
12 - Hỏi & đáp

1 – BỐN CHÂN LÝ CAO QUÝ TRONG NGÔN NGỮ HẰNG NGÀY
Chúng tôi rất vui mừng hiện diện nơi đây một lần nữa tại Xalapa, và chủ đề mà tôi đã từng được yêu cầu để nói tối nay là nghiệp báo. Dĩ nhiên, khi chúng ta nghiên cứu về một chủ đề nào đấy trong Phật giáo, điều quan trọng để có một ý tưởng nào đấy về việc tại sao chúng ta muốn tìm hiểu về nó, điều quan trọng của nó là gì, và tại sao nó phù hợp trong toàn bộ phạm vi của Phật giáo. Một cách căn bản Đức Phật nói về kinh nghiệm của mỗi người, những điều chúng ta kinh nghiệm trong đời sống, những gì sẽ xãy ra. Nền tảng căn bản quan trọng nhất của điều mà tất cả chúng ta kinh nghiệm, mọi người kinh nghiệm là gì? Đôi khi chúng ta buồn rầu, và thỉnh thoảng chúng ta vui vẻ. Đây là cung cách mà kinh nghiệm chúng ta trãi qua trong đời sống của chúng ta, có phải không?
Khi chúng ta thẩm tra hoàn cảnh đôi khi buồn rầu, và thỉnh thoảng vui vẻ, chúng ta khám phá ra rằng có nhiều vấn đề liên hệ với điều ấy. Khi chúng ta không vui, rõ ràng, đó là khổ não. Không ai thích u sầu, có phải thế không? Chúng ta có thể không vui trong việc nhìn thấy mọi việc, giống như một người bạn đi xa, hay nghe về những việc, những ngôn ngữ khó chịu, và chúng ta cũng có thể không vui khi nghĩ về nhiều việc khác nhau với nhiều loại cảm xúc khác nhau. Nhưng thỉnh thoảng chúng ta cảm thấy không vui và dường như không có bất cứ một liên hệ với bất cứ những gì chúng ta thật sự nghe và thấy, hay những gì đang xãy ra chung quanh chúng ta. Đây là một vấn đề, có phải không?
Nhưng về niềm vui thì thế nào? Đôi khi chúng ta cảm thấy vui vẻ, có phải không? Chúng ta cảm thấy vui nghĩ về điều gì đấy, như nhớ lại một thời điểm tuyệt vời mà chúng ta có với ai đấy. Nhưng khi chúng ta nhìn sâu xa hơn, chúng ta thấy rằng niềm vui này mà chúng ta trãi qua có một vài vấn đề liên hệ với nó. Trước tiên nhất, nó không bao giờ kéo dài, và chúng ta không biết nó sẽ kéo dài bao lâu. Và dường như nó chẳng bao giờ đủ. Chúng ta có thể vui khi ăn một muỗng thức ăn, nhưng điều ấy không đủ - chúng ta muốn ăn thêm và thêm và ăn thêm nữa. Thật sự, đấy là một câu hỏi rất thú vị - khối lượng là bao nhiêu của vật gì đấy mà chúng ta phải ăn nhằm đề thật sự hưởng thụ một cách thích thú với nó? Hãy nghĩ về điều ấy là vấn đề đầu tiên. Một điều sai lầm khác, một thoáng khác của niềm vui này là chúng ta không biết điều gì sẽ xãy ra tiếp theo. Chúng ta có thể tiếp tục vui trong giây phút tiếp theo, hay chúng ta có thể buồn. Nó có thể thay đổi, vì thế không có gì bảo đảm trong niềm vui này.
Thật sự đối với Phật giáo loại quán chiếu hay phân tích này vào trong niềm vui và nổi buồn không phải là điều gì đặc biệt; nhiều đại tư tưởng gia trên thế giới đã từng quán chiếu điều này và giảng dạy về điều này. Nhưng những gì Đức Phật dạy, những gì Đức Phật thấu hiểu là sâu xa hơn về vấn đề này hay khổ đau. Ngài nhìn một cách sâu sắc hơn vào sự thăng trầm trong hoàn cảnh đời sống của mỗi người, và những gì Ngài thấu hiểu là nguyên nhân cho niềm vui ấy thật sự là bộ phận của mỗi thời khắc mà kinh nghiệm của chúng ta trãi qua. Nói cách khác, cung cách mà chúng ta kinh nghiệm mọi việc với sự lên và xuống của vui và buồn không ngừng đấy là hoàn cảnh không hài lòng.
Thế nên, sau đó, Đức Phật nhìn và thấy nguyên nhân nào ở tại đấy trong mỗi thời khắc và điều gì tiếp diễn liên tục trong hoàn cảnh không hài lòng này, và Ngài thấy rằng nó là sự mê mờ về thực tại, sự rối rắm về hiện thực, hay sự bất giác về hoàn cảnh. Nói cách khác, mê mờ về việc chúng ta hiện hữu như thế nào, mỗi người chung quanh chúng ta tồn tại như thế nào, về thế giới hiển hiện như thế nào.
Điều này là hoàn toàn khác biệt với những gì nhiều người khác đã từng nói. Thí dụ, một số những người khác đã từng nói, sự lên và xuống của vui và buồn mà kinh nghiệm chúng ta trãi qua một cách căn bản do bởi tưởng thưởng và trừng phạt: từ việc tuân thủ luật pháp hay từ việc không tuân theo luật lệ. Vấn đề căn bản cho việc cảm thấy vui vẻ hay buồn rầu là ‘vâng lời’, theo ý kiến của nhiều vị thầy. Nhưng Đức Phật nói rằng: không, không phải trường hợp ấy. Nguyên nhân thật sự của sự mê mờ của chúng ta, không là vấn đề của vâng lời hay không vâng lời; nó là sự biểu hiện mê mờ về đời sống. Sau đó, Đức Phật tiếp tục nói rằng sự mê mờ rối rắm ấy không nhất thiết là toàn bộ sự sống, của việc chúng ta nếm mùi hay kinh nghiệm mọi việc như thế nào. Nó không phải ở đó: nó là điều gì đấy mà có thể di chuyển được, và nó có thể cởi bỏ được một cách hoàn toàn, để nó không bao giờ trở lại. Rồi thì Ngài nói rằng cách thật sự để làm thế là hãy thay đổi cung cách kinh nghiệm mọi thứ của chúng ta.
Từ bỏ sự mê mờ ấy không phải là vấn đề yêu cầu người nào khác để tháo bỏ nó cho chúng ta, nhưng một cách căn bản đấy là vân đề thay đổi chính thái độ của chúng ta, sự thấu hiểu của chúng ta về thực tại. Nếu chúng ta có thể thay thế sự không hiểu biết với sự thông hiểu và sau đó sở hữu sự thông hiểu này trong mọi lúc, rồi thì chúng ta khám phá ra rằng chúng ta không có sự lên và xuống liên tục của vui và buồn này, và chúng ta không ghi nhớ mãi sự lên và xuống của vui và buồn. Vì thế, đấy là một giáo huấn vô cùng căn bản của Đức Phật, đặt nó vào trong chính ngôn ngữ hằng ngày.
2 – NGHIỆP BÁO ĐỐI DIỆN VỚI NHÂN QUẢ HÀNH TRẠNG
Khi chúng ta nói về nghiệp báo, nghiệp báo là giải thích căn bản của việc làm thế nào và tại sao những kinh nghiệm của vui và buồn của chúng ta lên và xuống – đấy là tất cả về nghiệp báo. Nói cách khác, chúng ta rối rắm hay mê mờ về việc sản sinh sự thăng trẩm vui buồn,kinh nghiệm dễ chịu và khó chịu như thế nào ? Nói cách khác, nó đối diện với nhân và quả, và nhân quả là một chủ đề vô cùng phức tạp. Như Đức Phật đã nói, một chậu nước không đổ đầy bởi giọt nước đầu tiên và nó cũng không phải được rót đầy bởi giọt nước cuối cùng; mà nó được làm đầy bởi sự tích lũy toàn bộ những giọt nước. Tương tự thế, những gì chúng ta kinh nghiệm trong đời sống là kết quả của không chỉ một nguyên nhân – nguyên nhân chỉ là một thứ mà chúng ta chỉ mới làm ngay lập tưc trước hiện tại hay những gì chúng ta đã làm hàng niên kỷ về trước. Nó là kết quả của một khối lượng khổng lồ của những nhân tố nguyên nhân và những điều kiện (nhân duyên).
Điều này hoàn toàn phù hợp với quan điểm của khoa học, bởi vì những gì đang nói là những sự kiện không xãy ra trong cô lập, mà thật sự mọi thứ liên kết với nhau. Chỉ dùng một thí dụ rất đơn giản, tất cả chúng ta không thể hiện diện nơi đây trong phòng này để nghe bài thuyết trình này nếu người Tây Ban Nha đã không đến Mỹ châu, có phải thế không? Đó chỉ là một nguyên nhân để chúng ta hiện diện ở đây. Giống như thế, có rất nhiều nguyên nhân khác nhau, trực tiếp và gián tiếp, chúng cống hiến đến điều mà chúng ta kinh nghiệm ngay bây giờ hay bất cứ thời khắc nào.
Tuy nhiên, nghiệp báo đang giải thích những nguyên nhân liên hệ một cách đặc biệt với tâm thức của chính chúng ta. Nhưng có nhiều nguyên nhân cung ứng đến những gì chúng ta kinh nghiệm hay trãi qua – nguyên nhân vật lý, thí dụ, thời tiết, và v.v… Nhiều thứ tác động chúng ta đang đến không chỉ từ tâm thức chính chúng ta, mà cũng từ tâm thức của những người khác. Hãy nói về những chính trị gia, những người quyết định những chính sách khác nhau mà chúng tác dộng đến chúng ta, và những điều ấy cũng có thể bị pha lẫn với sự mê mờ rối rắm nào đấy, có phải không?
Nghiệp báo không nói về niềm tin hay tín ngưỡng, nó không nói về định mệnh hay tiền định và những thứ như thế, mà đúng hơn nó nói về việc chúng ta kinh nghiệm mọi thứ như thế nào và thái độ chúng ta tác động như thế nào đến những gì chúng ta kinh nghiệm trong đời sống. Từ ngữ ‘karma’ hay ‘nghiệp báo’ hay nghiệp quả’được dùng trong một ý nghĩa rất phổ biến để liên hệ đến mọi thứ liên hệ ở đây trong thuật ngữ “nhân quả hành trạng’, (nhân thế nào sẽ cho ra quả thế nào); nói cách khác, sự liên hệ nhân quả đến từ thái độ và cung cách cư xử của chúng ta. “Nghiệp báo” có thể đang liên hệ đến toàn bộ chủ đề ‘nhân quả hành trạng’ trong tổng quát, hay nó có thể liên hệ một cách rất đặc biệt đến một khía cạnh của toàn bộ tiến trình ấy. Do vậy, nếu chúng ta muốn thấu hiểu cơ chế của nghiệp báo, chúng ta phải nhìn vào nó với một ít chính xác hơn, trong một chi tiết nào đấy.
3 – MỘT VÀI HỆ THỐNG GIẢI THÍCH NGHIỆP BÁO
Khi chúng ta bắt đầu nhìn vào những giải thích chính xác hơn trong Phật giáo, chúng ta khám phá một cách rất nhanh chóng rằng không phải chỉ có một giải thích. Một có người Tây phương thấy điều ấy hơi không thoãi mái. Như nếu chúng ta có một rắc rối hay một hoàn cảnh, chúng ta có thể giải thích trong một vài cách khác nhau, tùy theo quan điểm của chúng ta. Ở phương Tây chúng ta làm như thế, chúng ta có thể giải thích những việc từ quan điểm xã hội, từ quan niệm tâm lý, từ khái niệm kinh tế - điều ấy không có gì ngạc nhiên. Những sự giải thích đa dạng giúp chúng ta thấu hiểu trong một cung cách đầy đủ những gì đang tiếp diễn. Và mỗi cách giải thích về những gì đang diễn ra căn cứ trên một hệ thống nào đấy của tư tưởng – hệ thống của tâm lý học, hệ thống của chính trị học, kinh tế học và v.v… Chúng ta có đôi điều tương tự ở đây trong Phật giáo, và vì thế chúng thấy rằng có vài giải thích từ những hệ thống giáo lý triết học khác nhau về vấn đề nghiệp báo hoạt động như thế nào.

Chúng ta cũng có điều ấy ở phương Tây ngay cả trong một hệ thống, như tâm lý học – có thể có có một sự giải thích từ quan điểm của phái Freudian, và sự giải thích theo quan niệm của phái Jungian; một người có thể giải thích mọi việc theo lối xã hội chủ nghĩa, hay trong cung cách tư bản. Chúng ta thấy điều ấy trong Phật giáo, và nó rất hữu ích, thật sự, hãy nhìn vào một vài hệ thống này, do vì chúng cho chúng ta những sự thấu hiểu khác nhau trong vấn đề nghiệp báo hoạt động như thế nào. Vì mục tiêu của chúng ta không cần thiết để đi vào những chi tiết về những sự khác nhau của những hệ thống, nhưng nó hữu ích để cảnh giác rằng có vài hệ thống.
Điều ấy dĩ nhiên có nghĩa, một cách ẩn tàng, rằng chúng ta cũng có những hệ thống Tây phương giải thích những gì đang xãy ra với những gì chúng ta đang kinh nghiêm hay đang trãi qua. Điều ấy không nhất thiết mâu thuẩn với những gì chúng ta nói với nghiệp báo.
4 – NGHIỆP BÁO NHƯ MỘT NHÂN TỐ TINH THẦN 
CỦA MỘT SỰ THÔI THÚC
Khi chúng ta nói về nghiệp báo như một thứ đặc biệt, một vấn đề đặc thù, nghiệp báo tự nó đang liên hệ đến một nhân tố tinh thần – nếu chúng ta theo một hệ thống giải thích. Chúng ta muốn nói gì với “nhân tố tinh thần?” Một nhân tố tinh thần là một phương thức nhận biết về điều gì đấy. Hãy lấy một thí dụ: chúng ta thấy ai đấy và chúng ta bước tới họ. Có nhiều nhân tố tinh thần liên hệ ở đây trong kinh nghiệm ấy. Có nhiều khía cạnh khác nhau đối với việc chúng ta nhận biết về người này như thế nào. Một số rất căn bản, như phân biệt người này với ai đấy khác, và với bức tường. Thích thú – đấy là một cách thể hiện để nhận biết về con người và niềm thích thú ấy sẽ đi cùng để thấy họ. Tập trung có thể ở đấy, những cảm xúc khác nhau có thể ở đấy. Tất cả những thứ này là nhân tố tinh thần, và chúng tập họp với nhau trong thời khắc ấy để thấy người ấy và bước tới họ.
Nhân tố tinh thần nào là nghiệp báo? Nghiệp báo là nhân tố tinh thần đang đưa chúng ta đến người ấy; đấy là sự thúc đẩy sẽ đi theo để thấy người ấy và sau đó đi tới họ. Đấy là tại sao trong một số lý thuyết nghiệp báo được giải thích hầu như một năng lực vật lý. Dĩ nhiên có thể có những nhân tố tinh thần khác, như ý định. Chúng ta định làm gì với người này? Chúng ta có thể có ý muốn ôm họ hay chúng ta có ý định đấm vào mặt họ. Có nhiều nhân tố khác liên hệ, nhưng nghiệp báo đơn giản là nhân tố tinh thần thúc đẩy này đang đưa chúng ta vào hành động ôm hay đấm khi chúng ta thấy họ và khi chúng ta đang đi tới họ. Cũng thế, hãy nhớ rằng những sự thúc đẩy tinh thần không chỉ là những hành động vật lý chẳng hạn như ôm hay đấm. Cũng có thể có một sự thúc đẩy tinh thần mà chúng ta nghĩ về điều gì ấy; nó không chỉ trong dạng thức nói về điều gì ấy hay làm điều gì ấy một cách vật lý. Cho dù chúng ta đang nghĩ về điều gì đấy, cho dù chúng ta đang nói về điều gì đấy, cho dù chúng ta đang làm điều gì ấy – tất cả những thứ này liên hệ với một loại thúc đẩy tinh thần nào đấy.
5 – NHỮNG ẢNH HƯỞNG CỦA THÁI ĐỘ NGHIỆP BÁO
Phật giáo, giống như khoa học, dạy rất nhiều trong những dạng thức nhân quả. Vì thế, nếu bị lèo lái bởi nghiệp báo – sự thúc đẩy này – chúng ta làm những việc, nói những điều, và suy nghĩ những thứ gì đấy, sau đó sẽ có một kết quả. Nghiệp báo không nói quá nhiều về ảnh hưởng của thái độ chúng ta đối với những người khác – mặc dù, dĩ nhiên, nó thật sự tác động trên những người khác. Đây là bởi vì, một cách thật sự, ảnh hưởng trên những người khác của những gì chúng ta thực hiện đối với họ là tùy trên người ấy, đến một sự phạm vi lớn. Một số ảnh hưởng trên người khác của những gì chúng ta thực hiện trên họ là qua những nhân tố vật lý mà thôi: bạn đấm ai đấy và làn da bị thâm tím. Đó chỉ là nhân quả vật lý thân thể; chúng ta không đang nói điều ấy với nghiệp báo.

Nhưng ảnh hưởng có trên người kia trong những dạng thức họ trãi qua kinh nghiệm như thế nào đối với những gì chúng ta nói hay làm đối với họ, điều ấy tùy họ, có phải không? Chúng ta có thể nói điều gì đấy rất độc địa đến ai đấy, thí dụ thế, và cảm xúc mà họ nhận được có thể rất tổn thương; ho có thể rất khó chịu. Nhưng họ cũng có thể nghĩ rằng chúng ta hoàn toàn là những kẻ ngu ngơ ngốc nghếch, và vì thế họ không tin chúng ta và không tiếp nhận chúng ta một cách nghiêm chỉnh. Hay họ có thể không thậm chí không nghe chúng ta hay họ nghe chúng ta một cách sai lầm. Tâm tư họ có thể đã bị bận tâm với điều gì khác, thí dụ vậy. Do thế, thậm chí nếu chúng ta có những ý định dữ dội thật sự làm tổn thương cảm xúc của người ấy, không có gì bảo đảm rằng nó sẽ thật là gì – mặc dù rõ ràng giáo huấn Đạo Phật dạy rằng chúng ta cố gắng không làm tổn thương bất cứ ai. Nhưng điều ấy không liên hệ đến nghiệp báo ở đây.
Khi chúng ta nói về những kết quả nghiệp báo về điều gì ấy, nó là những kết quả nghiệp báo mà tự chúng ta sẽ nếm qua như một kết quả của hành vi trong sự đẩy mạnh này, một lối bắt buộc, với sự thôi thúc của nghiệp báo.
Những ảnh hưởng gì trong chính chúng ta? Một trong những ảnh hưởng – và điều này rất giống với những gì khoa học Tây phương nói – là chúng ta điều kiện hóa chính mình để suy nghĩ trong một cách nào đấy, nói một cách nào đấy, và hành động trong một cách nào đấy, vì thế nó bồi đắp một khuynh hướng để lập lại cung cách của thái độ ấy. Và như một kết quả của ý định ấy để lập lại cung cách của thái độ ấy và cũng là một khả năng để lập lại hành vi ấy- chúng ta cũng làm một sự khác biệt nào đấy giữa những khả năng và những khuynh hướng , mặc dù không nhất thiết để đi vào chi tiết về điều ấy – như một kết quả của chúng, chúng ta muốn lập lại hành vi kia.
Nó thật sự sản sinh ra điều gì, ý định kia hay khả năng nọ? Ý định sản sinh một cảm xúc – cảm giác muốn đi tới người ấy và ôm người ấy, thí dụ thế, hay cảm thấy muốn đi tới gần người nọ và nói một điều gì đấy bất tịnh. Và rồi thì, khi chúng ta cảm thấy muốn làm điều ấy, dĩ nhiên, chúng ta có sự lựa chọn thực hiện điều ấy hay không. Đấy là một điểm rất quan trọng, để nhận thấy rằng chúng ta có sự lựa chọn để thực hiện những gì chúng ta cảm thấy muốn hành động hay không. Nhưng nếu chúng ta quyết định rằng chúng ta sẽ làm việc ấy, hay nếu chúng ta ngay cả không quyết định sẽ làm điều ấy hay không, chúng ta chỉ thể hiện, thế thì cấp độ kế tiếp là nơi mà nghiệp báo biểu lộ. Nghiệp báo là sự thúc đẩy, sự lèo lái, sự cưỡng bách mà với nó chúng ta thật sự tiến hành việc ấy.
Trong trường hợp ấy, có nhiều thứ khác chín muồi từ những xu hướng này. Một thứ mà một cách căn bản cũng là nội dung của những gì chúng ta trãi qua hay kinh nghiệm. “Nội dung” (content) là một chữ hơi rộng; tôi nghĩ là chúng ta phải hơi rõ ràng hơn. Ở đây, thí dụ, điều phải làm là gặp gở người kia không gặp mặt người nọ. Nó cũng liên hệ cung cách mà người ta hành động đối với chúng ta. Chúng ta phải hết sức cẩn thận về việc chúng ta nói thế nào, nhằm để được chính xác hơn. Nghiệp lực của chúng ta không là nguyên nhân làm cho người kia la hét đến chúng ta – họ la hét với chúng ta như một kết quả của những khuynh hướng mà họ phải la hét đối với người ta. Nhưng nghiệp lực của chính chúng ta là chịu trách nhiệm để nếm mùi những người khác la hét đối với chúng ta.
Dĩ nhiên, điều ấy không phải là một vấn đề dễ dàng lắm để thấu hiểu, nhưng chúng ta nghĩ trong cung cách của việc tiếp cận một sự thấu hiểu về điều ấy với một thí dụ. Nếu một đứa bé đang mang những tấm tả và làm bẩn tấm tả, thế thì đứa bé phải sống trong hoàn cảnh; đứa bé phải sống với tình trạng bẩn thỉu mà nó làm ra. Hãy để qua một bên toàn bộ vấn đề là có ai đấy thay tả cho đứa bé, nhưng điểm ở đây là nếu bạn tạo nên một tình trạng bẩn thỉu, thì bạn phải nếm mùi hay lĩnh nhận nó hay phải trãi qua với sự bẩn thỉu ấy.

Chúng ta tạo nên tình trạng hổn độn trong đời sống, và khi cuộc sống đi tới, chúng ta phải chịu càng nhiều lộn xộn bừa bộn hơn; một cách căn bản, nó hoạt động như thế. Một cách rõ ràng hơn, chúng ta hành động trong một cách nào đấy đối với những người khác, thì chúng ta sẽ lĩnh nhận hành vi của người khác trong một cung cách nào đấy đối với chúng ta. Nhưng một nguyên tắc khác rất quan trọng ở đây với nghiệp báo là điều này không hoạt động một cách lập tức. Chúng ta có thể nói với một cách rất thân ái và nhẹ nhàng đối với ai đấy, nhưng họ vẫn rất cuồng nộ, la lối đối với chúng ta với sân hận.
Điều này là tại sao phải thấu hiểu nghiệp báo một cách thật sự, chúng ta phải đem toàn bộ sự thảo luận về tái sinh, điều ấy phải cần một thời gian vô cùng lâu dài trước khi chúng sản sinh một ảnh hưởng, và chúng có thể không phát sinh một tác động trong đời sống hiện tại. Thực tế, hầu như chúng không bao giờ (có tác dụng trong hiện kiếp). Điều ấy thật không có gì khủng khiếp để chúng ta như những người Tây phương thừa nhận. Đối với một số người dường như Đạo Phật nói rằng, “Hãy hiền lương trong kiếp sống này và trong kiếp tới, bạn sẽ trãi qua những kết quả trên thiên đàng; nếu xấu xa và, kiếp sau, bạn sẽ phải nếm mùi những kết quả nơi địa ngục.”
Chúng ta phải thẩm tra điều này một cách thật sâu sát: Có phải Phật giáo nói cũng giống như thế, hay nó là khác? Đấy không phải là một chủ đề dễ dàng, nó là một đề mục rất phức tạp, bởi vì để thật sự hiểu về nhân quả nghiệp báo, chúng ta cần thấu hiểu tái sinh – khái niệm của Phật giáo về tái sinh, không phải quan điểm tái sinh phi Phật giáo. Ai liên lụy đến một nguyên nhân nghiệp báo và ai phải nếm mùi kết quả của nó? Có phải có một “cái tôi” được tưởng thưởng hay bị trừng phạt.
Nhưng hãy bỏ qua một bên vấn đề tái sinh và ai lĩnh nhận nó qua một bên, như chúng tôi đã đề cập lúc bắt đầu, Đạo Phật không nói về một hệ thống của thưởng phạt căn cứ trên sự vâng lời luật lệ. Phật giáo không nói về sự sống này là một loại thử thách hay kiểm nghiệm nào đấy, và chúng ta sẽ đón nhận những kết quả của kiểm nghiệm trong kiếp sống tới của chúng ta. Nó chỉ đơn giản nói rằng mọi thứ cần một thời gian dài để sản sinh tác động của chúng. Chúng ta có thể thấy điều ấy trong dạng thức của môi trường. Chúng ta hành động trong một cách nào đấy và nó sản sinh những ảnh hưởng trong đời sống của chúng ta, nhưng nó sẽ sinh sản những tác động ghê gớm nhiều hơn trong đời sống của những thế hệ tương lai. Nó là điều gì tương tự như thế.
6 – HẠNH PHÚC VÀ BẤT HẠNH
Một không gian hoàn toàn khác biệt với nghiệp báo chín muồi – nói cách khác, một không gian khác, với những kết quả đến từ những hành động nghiệp báo này – phải hoạt động với những gì chúng ta nói về vào đầu của bài thuyết trình này, đấy là không gian của hạnh phúc và bất hạnh này. Lập lại những hành động nào đấy, chúng ta trãi qua những việc nào đấy xãy ra đến chúng ta – người ta hành động đối với chúng ta trong những cung cách nào đấy, hay nó có thể là một hòn đá rơi từ đỉnh một mõm đá lên đầu chúng ta. Chúng ta trãi qua những thứ này với sự hạnh phúc hay bất hạnh. Nghĩ về điều ấy. Có những người nào đấy, khi chúng họ dẫm lên một con gián, họ cảm thấy rất vui – ta đã tóm được thứ đáng ghét này! Những người khác, khi họ dẫm lên một con gián, cảm thấy kinh tởm, và cảm thấy rất buồn. Một số người khác, khi ai đấy đụng trúng họ, hay la hét với họ, họ cảm thấy kém may mắn và rất buồn, và những người khác cảm thấy vui vẻ, “Vâng, tôi là người tội lỗi; tôi không tốt; tôi xấu xa; tôi đáng để bị la rầy và bị đụng phải.”
Các bạn biết những lời như thế, chúng tôi nghĩ rằng nó đến từ đây, ở Mễ Tây Cơ, hay có lẽ ai đấy vừa dựng lên như một câu chuyện và chúng tôi tin nó, nhưng nó là: “Nếu chồng tôi đánh tôi có nghĩa rằng anh ấy thật sự yêu tôi; nếu anh ấy không đánh tôi có nghĩa rằng anh ấy không yêu tôi.”
Niềm hạnh phúc hay bất hạnh này dường như là một loại không gian khác biệt, có phải không? Điều gì xãy ra đối với chúng ta trong hình thức của một không gian là những gì chúng ta làm một cách bắt buộc, do sự lập lại, và những gì chúng ta kinh nghiệm, nhưng những việc xãy đến cho chúng ta – đó không phải là không gian; và những không gian khác là chúng ta thật sự trãi qua như thế nào, với hạnh phúc và bất hạnh. Những việc này mà chúng ta trãi qua, có hai không gian, là đang chín muồi cả từ những hành động nghiệp báo quá khứ, mà cũng từ những thứ khác. Nếu chúng ta chỉ nhìn vào không gian của hạnh phúc và bất hạnh, điều này là một không gian rất phổ quát. Nó đến từ hoặc là chúng ta hành động trong một cách tàn phá hay kiểu xây dựng. Nếu chúng ta hành động một cách tàn phá, kết quả là trãi qua buồn khổ bất hạnh; nếu chúng ta hành động một cách xây dựng, kết quả là kinh qua hạnh phúc mừng vui.
7 – THÁI ĐỘ XÂY DỰNG VÀ TÀN PHÁ
Bây giờ điều trở nên rất hấp dẫn khi chúng ta khảo sát những gì Phật giáo muốn nói qua xây dựng và tàn phá. Một cách tự nhiên có vài giải thích về điều này. Nhưng khi chúng ta thấy, chúng ta không thật sự định rõ bản tính tự nhiên của một hành động trong những dạng thức ảnh hưởng nó có trong ai đấy khác, bởi vì người biết điều gì tác động sẽ là: có rất nhiều những nhân tố khác sẽ bị tác động. Thế nên xây dựng và tàn phá phải hành động với một tình trạng của tâm thức, với điều mà chúng ta hành động. Nếu chúng ta hành động căn cứ trên tham lam, hay dính mắc, hay sân hận, hay ngu ngơ khờ khạo, thế thì nó là tàn phá. Trái lại, nếu chúng ta hành động trên căn bản không sân hận, không tham lam, không bị dính mắc, không ngốc ngếch si mê, thế thì nó là xây dựng. Một cách rõ ràng nếu hơn thế nữa, nếu nó căn cứ trên từ ái và bi mẫn, bố thí, v.v… nó cũng là xây dựng.
Cũng có những nhân tố khác. Rất thú vị để thẩm tra những nhân tố khác này mà nó làm một hành động xây dựng hay tàn phá. Một nhân tố là đạo đức tự giác, hay hạnh kiểm tự giác (tự tàm: thẹn với mình). Điều đó phải hoạt động với sự tự hình dung chúng ta và tự trọng của chúng ta. Nếu chúng ta không có sự tự trọng, thế thì chúng ta không quan tâm đến tác động thái độ của chúng ta đối với chính chúng ta. Nó là thái độ của “bất cứ điều gì.” Với loại tự trọng thấp, chúng ta hành động một cách tàn phá. Nói cách khác, nếu chúng ta nghĩ về chính mình trong những cách tích cực, nếu chúng ta tôn trọng chính mình như một người, thế thì chúng ta không hành động như một kẻ ngốc.

Chúng ta sẽ không hành động một cách ngu dại, tàn nhẫn, bởi vì chúng ta không muốn tự hạ thấp mình để hành động trong cách đó – chúng ta có một ý niệm cao thượng hơn nhiều về chính mình, của những gì chúng ta có thể hành động. Đây là một nhân tố, chúng ta nói đến ở đây: hoặc là có một ý nghĩa đạo đức tự giác (tự tàm) hay không có ý nghĩa của đạo đức tự thẹn. Đây là một nhân tố vô cùng cốt yếu để quyết định hoặc là chúng ta hành động trong một cách xây dựng hay một cách tàn phá.
Một nhân tố khác quan tâm đến thái độ chúng ta phản chiếu trên những người khác. Chúng ta đang nói về điều gì? Nếu chúng ta hành động trong một cách khủng khiếp, nó phản chiếu thế nào trên gia đình chúng ta? Nó phản ánh thế nào trên quê hương chúng ta? Nếu chúng ta hành động bằng một cách dễ sợ, người ta sẽ nghĩ gì về người Mễ Tây Cơ? Bởi vì chúng ta có đủ lòng tôn trọng đối với gia đình, hội nhóm của chúng ta, hay bất cứ nó có thể là gì – tôn giáo, quốc gia, thành phố - với ý nghĩa quan tâm về tác động của thái độ chúng ta, với sự quan tâm về thái độ của chúng ta phản chiếu trên những người khác (quý tha: thẹn với người), nếu chúng ta có điều ấy, chúng ta sẽ kềm chế khỏi những hành vi tàn phá; nếu chúng ta không có nó, chúng ta sẽ hành động một cách tàn phá. Đây là một tuệ giác nội quán thậm thâm của Đạo Phật. Nhân tố cốt yếu là gì? Tự trọng, tự tàm và một ý nghĩa quý trọng cộng đồng của chúng ta.
Điều này cho chúng ta một tuệ giác nội quán to lớn vào trong một số nhân tố cần thiết được đem vào sự quan tâm trong những dạng thức đối phó với khủng bố. Nếu chúng ta tước đoạt một con người và cộng đồng của họ với mọi ý nghĩa của tự trọng về họ, làm cho đời sống của họ thật sự khủng khiếp và suy nghĩ những thứ kinh khủng về họ, họ cảm thấy rằng không có gì quan trọng đối với những gì họ cố gắng hành động. Nếu họ không có ý thức về tự trọng hay giá trị cộng đồng của họ, thế thì tại sao không hành động một cách tàn phá? Họ cảm thấy rằng họ không có gì để mất. Chúng tôi nghĩ rằng điều này là một việc hổ trợ để nhớ lại trong dạng thức của việc chúng ta đối phó như thế nào với người khác, một cách đặc biệt trong những hoàn cảnh rắc rối trên thế giới. Điều quan trọng là đừng bao giờ tước đoạt ý thức tự trọng của ai đấy hay một cảm giác chân giá trị cộng đồng của họ.
Cũng có một vài nhân tố tinh thần liên quan ở đây với điều làm nên một hành động tàn phá hay làm nên một việc làm xây dựng. Nó cũng là những thứ giống như thừa nhận sự thực rằng cung cách chúng ta hành động và xử sự đối với người khác sẽ ảnh hưởng đến họ. Điều này ám chỉ đến việc có một ý nghĩa của quan tâm hay chăm sóc – Chúng tôi gọi nó là “thái độ thận trọng.” Nhưng đôi khi chúng ta rất ngu ngơ, chúng ta nghĩ rằng chúng ta nói bất cứ điều gì đến người kia và chúng chẳng can hệ gì. Chúng ta không thật sự quan tâm đến cảm giác của người khác một cách nghiêm chỉnh. Thế thì chúng ta thiếu vắng một thái độ thận trọng.
Nếu chúng ta hành động với những loại thái độ tinh thần này – tham lam, sân hận, không có ý nghĩa tự trọng, không quan tâm đối với điều gì chúng ta thật sự phản chiếu trên người khác, không cẩn trọng, không lưu ý một cách nghiêm chỉnh rằng những gì chúng ta hành động sẽ có một ảnh hưởng đến những người khác và cũng có một tác động đến chính chúng ta – kết quả của điều ấy là gì? Bất hạnh, buồn phiền. Nổi buồn phiền này, nó là một sự trừng phạt, thế ấy.
Chúng ta cần phải suy nghĩ một cách hoàn toàn sâu sắc thật sự về điều này. Có phải thể trạng tâm thức với tất cả những nhân tố tiêu cực này thật sự là một tình trạng vui vẻ hạnh phúc của tâm tư, và có phải nó thật sự phát sinh một kinh nghiệm hạnh phúc trong chúng ta? Hay nó chỉ có thể sinh ra bất hạnh buồn phiền? Nếu chúng ta càng nghĩ về nó hơn nữa, nó thật sự làm nên ý nghĩa rằng tình trạng ấy của tâm tư, thể trạng ấy của tâm thức, sẽ đưa đến kết quả trong kinh nghiệm bất hạnh buồn phiền, và nếu chúng ta có chó một thể trạng đối ngược lại của tâm thức, không có tham lam, sân hận, và tất cả những điều khác này, nó sẽ sản sinh hạnh phúc . Do thế, chúng ta có những thái độ đặc trưng phổ biến này – xây dựng và tàn phá – và chúng sẽ đưa đến kết quả trong những kinh nghiệm hạnh phúc hay bất hạnh.
Thêm nữa, sau đó chúng ta có những loại hành động đặc thù mà chúng ta hành động: la lối vào ai đấy, hay thể hiện sự ân cần đến ai đấy, và v.v…, và những loại này cũng có những ảnh hưởng trong hình thức của những khuynh hướng để lập lại thái độ hay những khuynh hướng ấy để đi đến những tình cảnh mà trong ấy những người khác hành động trong cách nào đấy đến chúng ta.
Một kết quả khác của thái độ nghiệp báo của chúng ta – nhưng không cần thiết phải đi vào những chi tiết to lớn ở đây – liên hệ đến loại tái sinh nào mà chúng ta có: chúng ta sẽ tái sinh với một thân thể và tâm thức của một con chó, một con gián, hay của một con người. Loại thân thể và tâm thức mà chúng ta sẽ có là thế nào như phạm vi cho những kinh nghiệm nào đấy xãy ra đến chúng ta và sự hành động của chúng ta trong một cung cách nào đấy. Có nhiều chi tiết khác ở đây, những chúng tôi muốn chỉ bao quát trong thuyết trình giới thiệu này, những nguyên tắc phổ biến nhất.
8 – THUYẾT QUYẾT ĐỊNH HAY TỰ DO Ý CHÍ
Vì thế, về một phương diện, chúng ta kinh nghiệm những loại thái độ nào đấy lập lại và mọi việc xãy đến với chúng ta; và ở một mặt khác, chúng ta kinh nghiệm tất cả những điều này với sự thăng trầm của hạnh phúc và bất hạnh, những điều đôi khi ứng hợp với thái độ của chúng ta và có lúc dường như chẳng dính vào đâu. Và tất cả những điều này lên và xuống, khắp mọi thời, và chúng ta không biết điều gì sẽ xãy ra kế tiếp. Và dĩ nhiên những gì xãy ra đến cho chúng ta không chỉ là do bởi tôi và nghiệp báo của riêng cá nhân chúng ta mà thôi. Nó cũng bị ảnh hưởng bởi những gì sẽ diễn biến với những người khác trong vũ trụ và nghiệp báo của họ, và những họ đang hành động, cộng với những gì đang xãy ra với chính vũ trụ vật lý – những yếu tố của vũ trụ: thời tiết, động đất, những thứ như vậy. Do bởi thế, rất khó để tiên đoán những gì chúng ta sẽ trãi qua kế tiếp – những nhân tố ảnh hưởng cũng giống như thế, rất phức tạp, và thực tế, Đức Phật nói rằng nó là vấn đề phức tạp nhất của bất cứ điều gì để thấu hiểu.
Chúng ta phải hoàn toàn thấu triệt rõ ràng ở đây, bởi vì rất nhiều người hỏi về nghiệp báo - có phải nó là thuyết quyết định hay có phải chúng ta có tự do ý chí? Không có điều nào là đúng, cả hai đều là những cực đoan. Thuyết quyết định thường bao hàm rằng có ai đấy khác đã quyết định cho chúng ta những gì chúng ta sẽ làm hay những gì chúng ta sẽ nếm mùi – một nhân vật ngoại tại, một đấng cao cấp thiêng liêng nào đấy, hay bất cứ gì. Phật giáo nói rằng không phải điều đó; không phải ai đấy đã quyết định những gì chúng ta sẽ làm và chúng ta chỉ là những kẻ bù nhìn hay những con rối, thể hiện một vai trò nào đấy mà ai khác đấy đã thảo (kịch bản) cho chúng ta.
Trái lại, tự do ý chí hơi giống như ai đấy ngổi trong nhà hàng, cầm một thực đơn trước mặt họ và quyết định những gì họ muốn đặt hàng. Cuộc sống không như thế đó. Tưởng tượng đời sống như vậy, Đạo Phật nói rằng, đó là sai, nó rối rắm, nó là sự mê muội. Có thể dường như và cảm nhận như giống như có một cái “tôi” riêng biệt – tách khỏi đời sống, riêng khỏi kinh nghiệm, lìa khỏi điều kinh qua, và người ngoại cuộc đối với mọi thứ đang xãy ra có thể nhìn đời sống như một thực đơn và chọn những món trên ấy. Không có “tôi” riêng biệt với sự sống, hay riêng rẽ với kinh nghiệm và những gì đang xãy ra đến chúng ta không hiện hữu như những món nho nhỏ trên thực đơn mà chúng ta có thể chọn lựa, giống như chúng đã đang ngồi đấy sẳn, và rồi thì chúng ta chỉ ấn nút và nó chui ra khỏi máy (như một lon nước), hay điều gì tương tự như thế.

Chúng tôi nghĩ đấy là một thí dụ rất hình tượng để thấy nó ngớ ngẫn như thế nào. Nó không phải là những kinh nghiệm đang tồn tại như những món ăn khô làm sẳn trong một máy thực phẩm và chúng ta chọn lựa món nào chúng ta muốn; đặt tiền vào, nhấn một nút, và nó chui ra cho chúng ta. Cuộc sống không phải như thế, có phải không? Không phải là chúng ta quyết định trước, “Hôm nay, tôi trãi qua hạnh phúc và tôi sẽ thấy rằng mọi người sẽ tử tế đối với tôi.” Sau đó chúng ta đặt tiền vào máy của cuộc đời và nhạc pop sẽ hát lên những gì chúng ta chọn lựa. Đấy là tự do ý chí, có phải không? Tự do ý chí để quyết định những gì sẽ xãy ra cho chúng ta và những gì chúng ta sẽ làm. Nhưng những gì xãy đến cho chúng ta là vi tế và phức tạp vô cùng hơn hai loại cực đoan của thuyết quyết định và tự do ý chí hoàn toàn.
9 – MÊ MUỘI VỀ CỘI NGUỒN CỦA NGHIỆP BÁO
Chúng ta đã nói ở phần trước của bài thuyết giảng rằng những gì hoàn toàn đặc biệt trong Phật giáo là Đức Phật đã dạy nguyên nhân cho sự lên xuống liên tục của những kinh nghiệm hạnh phúc và bất hạnh và cho tất cả mọi loại mọi sự xãy ra đến chúng ta mà chúng ta thật sự không muốn xãy ra và rằng chúng ta không có bất cứ một sự kiểm soát nào đối với chúng. Nguyên nhân là bộ phận của mỗi thời khắc mà chúng ta trãi qua và không ngừng, đây là toàn bộ hội chứng – và nguyên nhân đấy là sự mê mờ. Không chỉ thế, nhưng khi chúng ta hành động với mê muội – cho dù tàn phá hay xây dựng – nó tăng cường điều được gọi là “thói quen không ngừng” hay “tính khí liên tục” – thói quen của hành động một cách liên tiếp với mê muội – và vì thế chúng ta tiếp tục hành động với si mê ở mỗi thời khắc riêng lẽ.
Sự mê muội này là gì? Đấy là một chủ đề rất sâu sắc trong Phật giáo; nhưng nếu chúng ta đặt nó trong những dạng thức thật sự đơn giản, thế thì chúng ta đang nói về sự mê mờ về vấn đề chúng ta hiện hữu như thế nào, người ta tồn tại như thế nào, và mọi thứ hiện diện như thế nào. Thí dụ, chúng ta nghĩ rằng tôi là trung tâm của vũ trụ; tôi là người quan trọng nhất; tôi nên luôn luôn tìm ra con đường của tôi; tôi luôn luôn đúng; người ta nên luôn luôn có thời gian cho tôi. Chúng ta có thể nhận ra thái độ này trong những hình thức của điện thoại cầm tay: chúng ta cảm thấy rằng tôi có thể gọi bất cứ ai và bất cứ lúc nào và làm gián đoạn họ bất chấp điều gì họ đang làm, và họ phải nên sẳn sàng cho tôi, bởi vì những gì tôi phải nói là quan trọng hơn bất cứ thứ gì mà người ta có thể làm bây giờ. Căn cứ trên sự mê muội này, chúng ta có thể hành động một cách tàn phá đối với ai đấy – la lối với họ, hung dữ đối với họ - và chúng ta sẽ làm thế bởi vì họ không làm những gì tôi muốn họ làm hay họ đang làm điều gì đấy mà tôi không thích.

Người ta nên làm những gì tôi thích bởi vì những gì tôi muốn rõ ràng quan trọng hơn những gì họ muốn. Hay, căn cứ trên sự mê muội giống như thế, chúng ta có thể làm điều gì đấy ân cần cho ai đấy, thể hiện sự tử tế đến họ, bởi vì tôi muốn họ thích tôi; tôi muốn họ vui vẻ hạnh phúc với tôi. Tôi muốn cảm thấy cần thiết trong đấy tôi đang làm điều gì đấy cho ai đấy mà tôi nghĩ họ cần, vì thể tôi sẽ nói với con gái tôi nuôi dưỡng con cái của nó như thế nào, và điều hành việc nhà nó như thế nào. Không phải là hữu ích hay sao? Và không cần biết người con gái ấy có muốn lời khuyên bảo và giúp đở hay không, nhưng chúng ta nghĩ rằng tôi là quan trọng nhất, và tôi muốn là người thiết yếu, và rõ ràng tôi hiểu biết hơn con gái tôi trong việc nuôi dưỡng con cái như thế nào và cô ta rõ ràng cần phải nghe những lời ấy của tôi.
Vì thế, có sự mê muội này, rối rắm này, và nó ở phía sau cả thái độ tàn phá lẫn xây dựng. Vì bởi sự mơ muội này chúng ta không ngừng thăng - trầm, lên – xuống với vòng lẩn quẩn này. Do vậy chúng ta phải thẩm tra làm thế nào để lìa bỏ điều đó.
10 –GIẢI THOÁT SỰ MÊ MUỘI CỦA CHÚNG TA
Khi chúng ta nhìn vào cơ cấu về việc những khuynh hướng và những thói quen nghiệp báo chín muồi như thế nào, một cách đặc biệt những khuynh hướng, rồi thì tất cả phải hành động với thái độ của chúng ta đối với niềm vui và nổi buồn lên xuống này mà chúng ta trãi qua. Chúng ta có hai nhân tố tinh thần mà chúng đồng hành với những kinh nghiệm vui buồn và chúng nổi bật ở đây. Thứ nhất gọi là “tham dục.” Khi chúng ta kinh qua hạnh phúc, chúng ta khẩn cầu ao ước – có nghĩa là chúng ta có một lòng khao khát rất mạnh mẽ - không phải tách rời khỏi điều ấy. “Đừng bỏ đi, ở lại đây với tôi, người có thể ở lại lâu hơn” – việc như thế này xãy ra khi chúng a đang cùng vui thú với ai đấy. Hay chúng ta đang hưởng thụ và cảm thấy hạnh phúc với việc ăn sô cô la và vì thế chúng ta không muốn bị tách rời khỏi niềm vui ấy.

Do bởi thế, chúng ta tiếp tục ăn nữa và nữa và nữa và nữa, có phải thế không? Đó là tham dục. Rồi thì, khi chúng ta kinh qua bất hạnh, trãi qua đau buồn, chúng ta muốn được tách rời khỏi chúng một cách nhanh nhất có thể được. Bên dưới của cả hai thứ buồn vui là nhân tố thứ hai – một thái độ mạnh mẽ của cái “tôi” rõ ràng, một cái “tôi” vững chắc, với những gì chúng ta đang trãi qua. Tôi phải tìm để có niềm vui này và bất cứ nó là gì, nó cho tôi niềm hạnh phúc, nữa và hơn nữa, và không bị tách rời khỏi nó. Tôi phải tách biệt với những gì tôi không thích. Tôi không thích bạn nói, vì thế tốt hơn là bạn hãy im đi hay tôi sẽ quát bạn.
Khi chúng ta kinh nghiệm buồn vui lên xuống trong cuộc sống của chúng ta với niềm tham dục khao khát này và một sự minh định và một cái “tôi” vững chắc với những gì sẽ diễn tiến – cái “tôi”, điều mà rốt cùng căn cứ trên sự mê muội, bất giác – điều này làm nên tất cả những khuynh hướng nghiệp báo đi đến chín muồi. Trong cách ấy, chúng ta đang liên tục không ngừng với sự thăng trầm của niềm vui, lên xuống của nổi buồn và đang lập lại tất cả những thái độ trước đây của chúng ta, bởi vì đây là những gì chín muồi từ những thiên hướng ấy. Điều thật sự ghê gớm là sự mê muội này ở đấy với mỗi thời khắc của vui và buồn, hạnh phúc và khổ đau. Nó ghi nhớ mãi những thời khắc của hạnh phúc và khổ đau, mà chúng cũng sẽ là với mê muội. Sự mê muội mà chúng ta trãi qua bây giờ là kết quả của sự si ám trước đây, khi chúng ta đang kinh nghiệm hạnh phúc và buồn đau (của quá khứ).
Vòng tuần hoàn tái diễn không thể kiểm soát này, sự tự tuần hoàn không ngừng này– chính là điều mà Phật giáo gọi là “luân hồi-samsara.” Nếu chúng ta có thể giải thoát khỏi sự mê muội này, thế thì toàn bộ hệ thống của nghiệp báo tan vở thành từng mãnh và chúng ta được giải thoát khỏi vòng luân hồi sinh tử. Nếu chúng tat hay thế sự mê muội này với một sự thấu hiểu đúng đắn – và chúng tôi sẽ không đi vào chi tiết, chỉ cho những quan điểm tổng quát – nếu chúng ta thay thế sự mê mờ này với sự thông hiểu đúng đắn, trong trường hợp này không có cơ sở cho cái “tôi” vững chắc – không căn cứ địa cho điều “tôi phải có điều này và không có điều kia.” Không có tham dục, vì thế không có sự khởi động hay đánh thức những khuynh hướng và thói quen này, bạn không thể nói rằng bạn vẫn còn có những khuynh hướng và thói quen.
Chúng tôi cố gắng đưa ra một thí dụ. Nếu có một xu hướng để thấy những con khủng long, thế thì khi những con khủng long bị tiệt chủng, không còn khuynh hướng để thấy những con khủng long nữa khi bạn đi qua khu rừng, có phải thế không? Đã thường có khuynh hướng này: khi chúng ta đi qua một khu rừng tôi luôn luôn thấy khủng long. Bây giờ không còn khủng long nữa, thế nên không còn gì tạo nên khuynh hướng để thấy khủng long nữa. Dùng thí dụ ấy, khi không còn gì tạo nên một khuynh hướng làm cho chín muồi – một con khủng long đi trước mặt chúng ta, tạo nên khuynh hướng để thấy một con khủng long chín muồi – nếu không có gì đánh thức khuynh hướng ấy, chúng ta không có khuynh hướng ấy nữa. Và nếu những khuynh hướng nghiệp báo không đi đến chín muồi nữa bởi vì không có những khuynh hướng ấy nữa, thế thì chúng ta không trãi qua sự thăng trầm của hạnh phúc hay lên xuống của buồn đau nữa, chúng ta cũng không còn kinh nghiệm bất cứ sự mê muội nào với nó nữa; điều đó cũng mất rồi.
Đây là cách, là con đường mà chúng ta được giải thoát khỏi toàn bộ tình trạng luân hồi này. Chúng ta không còn kinh qua sự không hài lòng, không bảo đảm thăng trầm của hạnh phúc và buồn đau, nhưng thay vì thế chúng ta có một kinh nghiệm rất vững chãi một loại an lạc hạnh phúc rất khác biệt, một phẩm chất rất khác biệt – không phải loại hạnh phúc lẫn lộn với mê muội, và không phải loại hạnh phúc “tôi thắng cuộc chơi và vì thế đây là phần thưởng của tôi.” Đấy là loại an lạc hạnh phúc mà chúng ta kinh nghiệm từ sự tự do với những hoàn cảnh khó khăn. Chúng tôi nghĩ một thí dụ đơn giản, mặc dù không là một thí dụ chính xác, cho sự tiếp cận với những gì mà điều này đang nói về sẽ là niềm hạnh phúc mà chúng ta cảm nhận khi chúng ta lấy một chiếc giày chật cứng vào cuối một ngày – đấy là một niềm vui thư thái mà chúng ta tự do khỏi sự đau đớn đó.
Cũng thế, những gì chúng ta kinh nghiệm với sự giải thoát, kinh qua với sự tự do là những hành động của chúng ta không còn bị lèo lái bởi những thúc đẩy bắt buộc của nghiệp báo với điều mà chúng ta hành đọng trong một cách nào đấy, kinh nghiệm những điều nào đấy. Đúng hơn, nếu chúng ta đang hành động, vươn khỏi chỉ sự giải thoát, để trở thành một vị Phật, những gì lèo lái cho hành động của chúng ta là từ bi (từ ái và bi mẫn) – một nguyện ước cho những người khác được tự do với nổi khổ và nguyên nhân của đau khổ ấy của họ.
11 – NHỮNG LỜI KẾT LUẬN
Đây là một giải thích căn bản đến một số nguyên tắc liên hệ đến nghiệp báo. Có nhiều, nhiều, nhiều, nhiều hơn thế ấy có thể nói và giải thích. Một số được giải thích với những nguyên tắc phổ biến, như loại hành động này đưa ra kết quả trong loại ảnh hưởng này, và nếu nhân tố này là ở đấy kết quả sẽ mạnh mẽ hơn, và nếu nó không ở đấy – nếu chúng ta làm điều gì đấy do tai nạn như đối ngược lại với hành động với một mục tiêu - ảnh hưởng sẽ khác biệt, và v.v…Có nhiều chi tiết ở đấy.
Cũng thế, trong dạng thức của những gì sẽ chín muồi ngay bây giờ, điều ấy rất khó khăn để khái quát hóa với những nguyên tắc, bời vì điều ấy ảnh hưởng bởi mọi thứ khác đang xãy ra chung quanh chúng ta. Điều gì xãy ra cho chúng ta bây giờ, chúng ta không chỉ khái quát hóa vói những nguyên tắc chung chung, bởi vì những gì xãy ra bây giờ bị ảnh hưởng bởi mọi thứ khác đang xãy ra. Chỉ nghĩ về việc nếu chúng ta có một tai nạn trên đường, điều gì đã đem đến? Đó là nghiệp báo đã mang mọi thứ khác vào trong con đường ấy từ phía của họ, và những điều kiện giao thông, và thời tiết, và điều kiện đường xá. Rất nhiều thứ đã được đem đến chuyện đặc thù để có một tai nạn chín muồi bây giờ.
Nếu chúng ta thích thú về chủ đề này, có một không gian rộng lớn để khám phá nhiều khía cạnh khác nhau của nó. Càng học hỏi về nghiệp báo, chúng tôi nghĩ, càng hữu ích hơn trong sự vượt thắng việc bị khống chế của nghiệp báo, vì thế chúng ta không chỉ được giải thoát chính mình khỏi sinh tử luân hồi, mà chúng ta cũng sẽ ở trong vị thế tốt hơn có thể hổ trợ người khác.
[For a more detailed explanation, see: The Mechanism of Karma: TheMahayana Explanation, Except for Gelug Prasangika.]
Quý vị có câu hỏi gì?
12 – HỎI ĐÁP
HỎI: Trong phạm vi này, tội lỗi không có trong tấm ảnh? Không có việc gì với tội lỗi ở đây, có phải không?
ĐÁP:Đúng thế. Sự giải thích của Đạo Phật về nghiệp báo không liên can gì đến tội lỗi. Tội lỗi là căn cứ trên sự suy nghĩ trong những hình thức của một cái “tôi” rất mạnh mẽ vững chắc như một thực thể tồn tại riêng biệt và những gì tôi đã làm như một thực thể riêng lẻ khác, giống như hai quả bóng bàn, hay điều gì ấy giống như thế. Và sau đó chúng ta tin tưởng rằng thực thể cái “tôi” là quá tệ và thực thể “những gì tôi đã làm” cũng là tệ hại. Vì thế cũng có một sự phán đoán của hai thực thể dường như vững chắc và rồi thì không thể buông xả được – đó là tội lỗi. Giống như chẳng bao giờ vất rác ra khỏi nhà chúng ta, mà chỉ giữ nó bên trong và nói nó ghê tởm như thế nào, nó hôi thối như thế nào, nó nhơ bẩn như thế nào, và chẳng bao giờ buông bỏ.
HỎI: Nghe có vẻ rất rõ ràng và rất hơp lý (logic), và tôi có thể hiểu toàn bộ hệ thống, và làm thể nào giải thoát khỏi sự mê muội, và sự những khuynh hướng thúc đẩy cùng mọi thứ. Nhưng tôi nghĩ rằng thấu hiểu nó chưa đủ để giải thoát ngay bây giờ đối với những kinh nghiệm hay sự thúc đẩy hành động một cách bắt buộc.
ĐÁP: Đúng thế. Vâng, đấy là tại sao trước tiên chúng ta cần thực nghiệm đạo đức tự giác (tự tàm). Hãy nhớ là, chúng ta đề cập rằng có một khoảng cách nhỏ giữa điều khi tôi cảm thấy giống như muốn nói, “Ô thật là một bộ đồ xấu xí mà bạn mặc hôm nay,” và khi tôi thật sự nói nó. Nếu chúng ta có thể nắm bắt khoảng không gian ấy, thế thì chúng ta có khả năng để quyết định những gì sẽ ảnh hưởng nếu tôi nói với người ấy rằng người ấy đang mặc một bộ đồ xấu xí. Và nếu chúng ta thấy rằng điều ấy sẽ không là sản phẩm tốt đẹp chúng ta không phát hành nó. Đấy là nơi chúng ta bắt đầu – với nguyên tắc đạo đức và sự tự kiểm soát.

Cũng thế, chúng ta có thể thẩm tra cảm xúc nào tôi đang cảm nhận khi tôi muốn làm việc gì ấy? Tại sao tôi ao ước làm việc gì ấy căn cứ trên một cảm xúc phiền não, chẳng hạn như tham lam? Có phải nó căn cứ trên sân hận; có phải nó căn cứ trên si mê? Tôi có nghĩ rằng nếu nói bộ đồ của bạn là xấu xí sẽ không có bất cứ ảnh hưởng nào đối với bạn? Hay có phải tôi ao ước làm việc gì đấy căn cứ trên sự tử tế ân cần, và đây là những việc tích cực hơn? Đây là tại sao sự định nghĩa của một cảm xúc phiền não hay một thái độ quấy rầy là rất hữu ích: nó một tình trạng của tâm thức, là thứ, mà khi nó sinh khởi, nó làm cho chúng ta mất sự an bình của tâm thức và mất sự tự kiểm soát.

Chúng ta có thể nói rằng khi chúng ta mất sự an bình của tâm thức: tim chúng ta đập hơi nhanh hơn; và chúng ta cảm thấy hơi khó chịu. Vì thế, chúng ta cố gắng chú ý, thí dụ, những việc vi tế, như có phải tôi đang nói điều gì đấy do tự hào? Thí dụ, ai đấy nói, “Tôi không hiểu điều đó,” và bạn nói, “Ô, nhưng tôi hiểu!” Quý vị sẽ chú ý một sự hơi bực bội, một chút tự hào, một sự kiêu hãnh nào đấy, và vì thế đây là những gì chúng ta đề phòng.
HỎI: Tôi có hơi không hiểu. Tôi nghĩ, giáo sư đề cập rằng có hai cảm xúc không ngừng đây là hạnh phúc và bất hạnh, những sự giao động lên xuống này. Có phải giáo sư đang nói rằng một trong hai điều này la tham dục, còn thứ kia là gì?
ĐÁP:Những gì tôi đang giải thích là hai nhân tố mà chúng khởi động những khuynh hướng nghiệp báo – những điều này đến từ những giáo lý mười hai nhân duyên. Một thứ là tham dục (ái - thứ 8) và thứ kia – tôi đang làm cho đơn giản – thứ kia đặc biệt gọi là thái độ hay cảm xúc đạt được tức là chấp trước (thủ - thứ 9), và nó là một danh sách khoảng năm khả năng khác nhau. Đây là những gì sẽ đạt đến một kết quả, và vì thế điều nổi bật nhất là xác định rõ một cái “tôi” vững chắc với nó chúng ta đang trãi qua, với những gì đang diễn tiến.
HỎI: Có phải sự xác định cái “tôi” vững chắc trong mối quan hệ đến điều gì đấy? Rõ ràng có sự rối rắm ở đây, và rằng chúng ta phải chăm sóc nó và thoát khỏi sự rối rắm mù mờ. Nhưng điều gì chúng ta thật sự đang mù mờ và điều chúng ta đang rối rắm với nó?
ĐÁP: Đấy không phải là một câu hỏi dễ dàng để trả lời trong một cách đơn giản. Chúng ta đang mê mờ cái “tôi” thật sự tồn tại, cái “tôi” quy ước, với cái “tôi” sai lầm không thật sự hiện hữu. Nhưng gì chúng ta đang làm là đang tưởng tượng cái “tôi” hiện nay, là thật sự tồn tại hiện hữu trong một cách không thể xãy ra được nào đấy, nó sự thổi phồng. Nó đang thêm vào điều gì đấy không có ở đó. Thí dụ: tôi vui vẻ hay tôi không vui vẻ. Không phải là bạn không vui vẻ; tôi không vui vẻ. Khi có một kinh nghiệm hạnh phúc hay bất hạnh, chúng ta liên hệ nó trong những dạng thức của tôi hạnh phúc. Không phải rằng bạn vui vẻ và ai đấy khác vui vẻ - tôi vui vẻ. Cái “tôi” (‘I’ hay ‘me’) là cái “tôi” quy ước, là điều thật sự hiện hữu.
Hãy để chúng tôi dùng một thí dụ cho cái “tôi” quy ước này. Giả sử chúng ta xem một bộ phim và hãy nói bộ phim là “Cuốn Theo Chiều Gió”. Trong ấy, có một cảnh vui, rồi một cảnh không vui, và rồi một cảnh vui khác. À…,điều gì đang xãy ra ở đây? Màn hạnh phúc là một cảnh trong phim “Cuốn Theo Chiều Gió” và mà không vui là một cảnh khác của bộ phim. “Cuốn Theo Chiều Gió” là chúng ta đã đặt tên một cách quy ước cho toàn thể các màn ấy, tất cả các cảnh ấy, cả vui vẻ hạnh phúc và buồn đau bất hạnh. “Cuốn Theo Chiều Gió”, tuy thế, chỉ là tiêu đề, chỉ là một cái tên.

Nhưng khi chúng ta nói về “Cuốn Theo Chiều Gió”, chúng ta không chỉ nói về tựa đề. Chúng ta đang nói về bộ phim thật sự - mà tựa đề liên hệ đến. Đấylà bộ phim hiện hữu một cách quy ước: nó tồn tại. Bộ phim là điều gì đấy tách biệt khỏi mỗi màn của những cảnh ấy – một bộ phim tách rời và độc lập với những cảnh ấy sẽ là một bộ phim không thật. Nó không tồn tại. Một bộ phim tồn tại một cách quy ước đơn thuần là những gì có thể đặt tên hay quy cho, chúng ta nói, trên căn bản của những màn, những cảnh.
Tương tự thế, chúng ta có những thời khắc hạnh phúc trong đời sống, chúng ta có những lúc không vui trong cuộc đời và v.v…, và chúng ta liên hệ như thế nào đến tất cả những điều ấy? Chúng ta liên hệ tới nó như cái “tôi” – cái “tôi” quy ước, là điều thật sự hiện hữu: nó không phải là bạn, nó là “tôi”. Tương tự thế, bộ phim là “Cuốn Theo Chiều Gió”, không phải là “Chiến Tranh Các Vì Sao”. Nhưng không có cái “tôi” tách biệt từ những thời khắc của kinh nghiệm hạnh phúc và bất hạnh và cái “tôi” là điều đang kinh nghiệm những thời khắc ấy. Đó sẽ là cái “tôi” không thật, một cái “tôi” không thật sự tồn tại. Và cái “tôi” không chỉ là một từ ngữ; vì thế cái “tôi” chỉ đơn thuần là những gì mà từ ngữ ấy đang liên hệ đến trên căn bản của tất cả những thời khắc trãi qua của một đời sống.
Sự mù mờ, thế thì, sẽ là để nghĩ rằng có một cái “tôi” riêng biệt nào đấy hiện diện trong thân thể này, cư ngụ trong đấy, nối kết với nó bằng cách nào đấy, nhấn những nút bấm, và bây giờ cái “tôi” ấy là đang trãi qua cái đau trên bàn chân của tôi, và tôi rất đau khổ và tôi không thích điều ấy. Nó giống như có một cái “tôi” tách biệt với toàn bộ những kinh nghiệm bên trong cái vật xa lạ ấy được gọi là thân thể. Sau đó, trên căn bản sự mê mờ rối rắm về cái “tôi” riêng biệt – cái “tôi” không thật này – với cái “tôi” quy ước và đồng hóa nó với cái “tôi” không thật, chúng ta cảm nhận, với tham dục (ái), “tôi pahir tách biệt khỏi sự buồn phiền này, từ sự đớn đau này, từ sự bất hạnh mà tôi trãi qua với cái đau của thân thể vật lý.” Dĩ nhiên, khi chúng ta không có nhận thức sai lầm ấy về cái “tôi” vững chắc, điều ấy không có nghĩa là rằng chúng ta chỉ ngồi đấy và tiếp tục có cái đớn đau. Nếu bàn chân chúng ta ở trên ngọn lửa, dĩ nhiên, chúng ta đưa bàn chân chúng ta ra khỏi lửa, nhưng khái niệm cái “tôi” ở phía sau là hoàn toàn khác biệt. Không có gì sợ hãi.
Nhưng khái niệm của một cái “tôi” không thật đối kháng với một cái “tôi” quy ước là rất phức tạp và cấp tiến cao độ. Vì thế, hãy rời nó bây giờ. Hãy chấm dứt ở đây, thay vào đấy, cho buổi tối hôm nay với một lời hồi hướng. Chúng ta quán niệm: bất cứ điều hiểu biết nào, bất cứ năng lực tích cực nào đã đến từ điều này, nguyện cầu tất cả được thâm nhập càng sâu sắc hơn hơn nữa, phát triển càng mạnh mẽ hơn hơn nữa, và hành động như nguyên nhân để đạt đến giác ngộ vì lợi ích cho tất cả.
Introductory Lecture on Karma
Alexander Berzin
Xalapa, Mexico, May 2, 2006
Tuệ Uyển chuyển ngữ
21-03-2010
http://www.berzinarchives.com/web/en/archives/sutra/level2_


No comments:

Post a Comment